MỘT CÁCH "Ý TRÌ" DỄ ĐẾN KẾT QUẢ
“nhất niệm bất loạn” để đi đến “nhất tâm bất loạn”
Người viết: Trần đức Hân



I) Niệm và niệm Phật:

Niệm:

Là nhớ nghĩ đến

Là chú tâm, là tỉnh giác,là quán chiếu…

Phật:

Là tự tâm trong sáng, thanh tịnh, thường tịch quang, Như Lai tạng tánh, Phật tánh…v..v….

Niệm Phật:

Niệm Phật không phải chỉ là đọc, tụng ê a danh hiệu ông Phât nào đó; Mà niệm Phật là hành giả có tâm ý nhớ nghĩ đến, chú tâm, tỉnh giác mà quán chiếu tự tánh, Phật tánh của mình.

Pháp môn nào cũng quán chiếu tự tâm, trở về tự tánh là then chốt. Hành trì bất cứ pháp môn nào, hành giả cũng không thể rời niệm Phật, nghĩa là không rời công việc làm thế nào để trở về giác hải. Nói đơn giản, nói gọn thì:

đạo Phật là đường lối trở về Giác Tánh.

Niệm Phật là ý niệm, ý muốn…trở về Giác Tánh

Đọc tụng ê a một danh hiệu Phật (trì danh) chỉ là một cách hành trì, cũng giống như cách biết rõ hơi thở ngắn dài, thở bằng màng cách mô, cũng giống cách trì một câu chú.

Thiền, Tịnh độ, Mật …Hành giả tu theo pháp môn nào cũng đang từng giậy, từng phút niệm Phật, đang tiến thẳng trên con đường trở về nhà (Giác tánh).

Tu pháp môn nào thì quán chiếu tự tâm cũng là then chốt. Tám mươi bốn ngàn cánh cửa vào nhà Phật Tâm, Phật Trí, cửa nào cũng có then chốt “Quán Tự Tại”. Phải là Quán Tự Tại Bồ Tát, phải thành Phật Giác Hoa Định Tự Tại. Định cái tâm ý trong ta bây giờ và tại đây đó chính là niệm Phật.

Nhưng theo thói quen hễ nói đến hai chữ “niệm Phật” là óc cứ liên tưởng đến việc phát âm “Nam mô A Di Đà Phật” họặc “ A Di Đà Phật” hoặc đọc hay trì tụng một danh hiệu Phât.

Óc cũng có thói quen liên tưởng đến “nhất tâm bất lọan” mà pháp môn tịnh độ thường đề cập đến.

II) Liên quan của tâm và não bộ:

Pháp môn nào cũng có chung một trọng tâm là tu tâm. Nói đến tâm lại liên quan đến nhiều chức năng của não bộ. Vậy cũng nên hiểu sơ qua não bộ.

Nói là tu tâm mà kỳ thực trong sáu loại tâm(1) được định nghĩa, đa số có liên hệ đến sự vận hành của não bộ. Tôi xin phép trích ra đây một đoạn của tập san Thiền Tánh Không.

Bộ não có nhiều chức năng, xin tạm kể:
•Ý thức phân biệt, ý căn suy nghĩ, trí năng suy luận, ký ức ghi nhớ.
•Vùng giác tri tâm linh, tánh giác gồm có tánh thấy, tánh nghe, tánh xúc chạm và tánh nhận thức biết (không lời).
•Đường mòn ngôn ngữ gồm có: Vùng kiến giải tổng quát (Wernicke), vùng giải mã (Broca) vùng nói (trên thùy đỉnh) vùng cơ chế phát ngôn. (miệng lưỡi, cổ họng, dây âm thanh, âm quản hay thanh quản).
•Hệ thống viền não (để nhớ).
•Như vậy Tâm không ở nơi tim mà gá nương ở nơi não. Não đảo điên Tâm điên đảo. Não an tịnh Tâm thảnh thơi.

Tóm tắt là phải khởi sự bằng cách làm sao cho não bộ được an tịnh.

Bằng Điện não đồ, các nhà não học ghi nhận được những loại điện thế (action potentials) từ bên trong tế bào não (neurons) phát ra và truyền đi trong trục thần kinh não (axon). Dạng điện này được gọi là sóng não.
Có tất cả 4 loại dạng sóng não: Beta, Alpha, Theta, và Delta.

Sóng yên, óc tịnh, tâm thảnh thơi trong sáng.

Quan sát từ diện não đồ, hành giả nhận ra rằng tu theo pháp môn nào, hành giả cũng muốn làm cho sóng yên, óc tịnh, tâm thảnh thơi trong sáng. Có nghĩa là các làn sóng trong não bộ phải giảm dần từ dạng beta xuống alpha, xuống theta, xuống delta.

III) Phương pháp “niệm ý trì”

Niệm Phật ý trì là một cách trì danh niệm Phật. Hành giả tịnh tông niệm danh hiệu Phật A Di Đà, đã rõ biết thế nào là trì danh. Nơi đây tôi chỉ lặp lại những điều mà quý vị đã biết để cùng nhau ôn tập. Các loại trì danh:

Cao thanh trì danh, đê thanh trì danh, kim cang trì danh, mặc trì, ý trì.

Nguyên tắc niệm ý trì: (niệm trong óc)

Niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Hành giả chọn theo ý muốn của mình, niệm sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật”, hay niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”. Niệm Phật trong óc. Đại đức Thích Minh Tuệ viết rõ ràng trong quyển sách “bất niệm tự niệm…”, có đăng trong TVHS.

Ưu điểm của niệm ý trì:

Hành giả không bị hao hơi, tránh tình trạng bị bịnh lao. Ý trì cắt giảm rất nhiều những làn sóng vận hành trong óc. Những làn sóng từ trung khu vận động ra lệnh cho các bắp thịt của môi, lưỡi, răng, lợi, phổi, cách mô, thanh quản, khiến các băp thịt co thắt thế nào để âm thanh phát ra to, nhỏ, tr òn đầy…Số lượng sóng não giảm đi, đương nhiên óc sẽ yên tịnh hơn. Đạo hữu nào muôn đào sâu về khoa học não bộ thì có thể tìm học với thiền tánh không. Trên thực tế, nhiều đạo hữu đã về chùa Tịnh Luật ở Waller, TX, tu tập với Đ Đ Thích Minh Tuệ đã có những thành công thấy rõ trên nếp sống hiền hòa hơn, tươi vui hơn của họ. Đó là thành quả hiện thấy mà chúng ta có thể dựa vào để đánh giá (hiện lượng).

Khuyết điểm của ý trì: hành giả dễ buồn ngủ.

Phương pháp luyện tập:

1) Niệm bằng ý.

Thoat đầu niệm ra tiếng, tiếp đó hạ dần âm thanh, niệm nhỏ dần, từ cao thanh xuống đê thanh, xuống kim cang trì danh, xuống mặc trì rồi xuống ý trì (niệm bằng óc). Nếu không quen thì viết mấy chữ “A Di Đà Phật” và đọc nó bằng ý. Trong đạo tràng, dùng tiếng mõ để diều khiển. Tiếng mõ lớn, niệm to, tiếng mõ nhỏ dần, niệm nhỏ dần, tiếng mõ tắt (không tiếng mõ), ý trì. Thời gian ý trì cho hành giả mới tập kéo dài độ năm phút. Thời gian ý trì này cứ tăng dần lên, thời gian niệm ra tiếng ít dần đi.

2) Dùng CD làm trợ huấn cụ.

CD này là dĩa chỉ phát âm thanh. Âm thanh niệm “A Di Đà Phật” không liên tục từ đầu đến cuối mà có tiếng rồi im lặng, có tiếng rồi im lặng. Cứ lặp lại như thế. Quý vị tự mình làm một cái CD, để có giọng đọc của chính mình. Nghe giọng của mình và trì tụng theo nhịp điệu của mình thì lợi lạc hơn. Nếu không tự thu âm không tự làm CD được thì chọn dùng CD nào đó mà mình thích.

Cách làm CD:

Thu âm:

“A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, ………………………………………… …

“A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”,

………………………………………… “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”,

………………………………………… .4 danh hiệu phát âm, tiếp theo là khoảng yên lặng kéo dài độ 30 giây hoặc 60 giây. Cái gạch ……….. dài ở trên là khoảng trống, im lặng.

Cách dùng CD:

Bỏ CD vào máy, niệm ý trì theo nhịp diệu mà máy phát âm. Khi máy chạy qua phần im lặng, hành giả vẫn tiếp tục ý trì. Nói cách khác là mở máy nghe CD, dù cho maý phát âm hay không phát âm, hành giả cứ tiếp tục ý trì liên tục, không gián đoạn, không xen tạp (trong óc không có một niệm nào khác xen tạp).

IV) Nhất niệm bất loạn và nhất tâm bất loạn.

Hành giả tu tập pháp môn tịnh độ đều muốn đạt đến “nhất tâm bất loạn”. Đạt đến trình độ này không biết có mấy ai. Phương pháp niệm ý trì bằng cách dùng CD này có thể giúp hành giả “nhất niệm không xen tạp” trong 60 giây đồng hồ. Máy lại phát ra độ bốn câu để đưa hành giả về với tỉnh giác về với ý tưởng niệm Phât. Hành giả qua được cái cầu môt phút không xen tạp. Máy không ngừng, nó nhắc hành giả qua phút kế tiếp….Cứ như thế mà tập niệm “A Di Đà Phật” hoặc “Nam mô A Di Đà Phật”.

Trong lợi lạc cũng có cái bất lợi, đó là sự quấy nhiễu. Nếu mở âm thanh máy quá lớn, sẽ làm giật mình trong lúc tâm đang yên định. Để tránh chuyện này xảy ra, để máy xa chỗ ngồi hành trì và mở âm thanh vừa đủ nghe. Khi ý trì nên niệm đúng nhip điệu của máy để âm thanh phát ra từ máy không chống chõi, không trật nhịp với tốc độ mình đang ý trì. Người mới tập ý trì, khi máy phát âm, có thể dùng ngón tay gõ nhịp, tựa hồ đánh mõ, và tiếp tục nhip ngón tay khi máy im lặng, để ý trì đúng theo nhịp điệu. Khi thuần thục, hành giả nên bỏ nhịp ngón tay. Còn nhịp ngón tay là còn phan duyên (ngoại duyên).

Sáu mươi giây óc không xen tạp, óc chỉ thuần nhất một niệm “A Di Đà Phật”. Đạt được 60 giây, tiếp theo 60 giây, tiếp theo 60 giây.

“Óc không xen tạp” tiếp đến óc được “nhất niệm bất loạn” là những nấc thang để tiến đến “nhất tâm bất loạn”.

Đến một lúc, hành giả sẽ buông bỏ CD.

Trong khóa tu Phật thất vừa qua, Đ Đ Thích Minh Tuệ áp dụng cách ý trì với sự trợ giúp của CD này, kết quả thật khả quan cho học viên. Tôi viết ra đây chỉ là hoan hỷ, tán thán thành công của thầy đã tìm ra phương pháp mới để huấn luyện. Riêng phần cá nhân tôi, nếu cái CD im lặng độ năm phút thì tạp niệm vào óc như thác. Nhưng cứ từng phút; Tôi vượt qua từng phút không thấy khó khăn. Cứ chăn trâu từng phút rồi từng phút….Và… thành tâm chúc các bạn thành công.

Phụ ghi:

(1) Tâm chỉ toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm tri.

Có sáu loại tâm:

1) Trái tim

2) Cái tinh hoa, cốt lõi, trung tâm điểm

3) Cái tuyệt đối, chân như Hrdaya (S)

4) Duyên lự tâm, ý thức (manovijnanana (S). Thức thứ 6

5) Tư lượng tâm Mạt na thức, (manas) (S). Thức thứ 7 (chấp ngã)

6) Tập khởi tâm, alayavijnana (S) chứa các chủng tử, tập tành, huân tập. Thức thứ 8



PDFIn TrangGửi mail






Ý kiến độc giả (2)

Được gửi bởi Chân Diệu Mỹ (Guest) vào 09/25/2011
(Tiếp Theo...), có lẽ rằng trong đời này, như sức của D/Â, không dám mơ tới.

Chư Tổ dạy, niệm Phật không cầu nhất tâm bất loạn thì mới có thể Nhất tâm bất loạn, nếu còn đặt vấn đề nhât tâm bất loạn thì không bao giờ được Nhất tâm bất loạn. Vì không còn để ý đến nhất tâm bất loạn thì tâm mới tịnh, còn cứ cầu mong lung tung thì tâm càng loạn thêm. Nếu tham cầu nhiều quá cũng dễ đi đến chỗ vọng tưởng sai lầm, có thể bị nguy hiểm về sau!...

Trong quá khứ, cũng như gần đây, nhiều người đã tự nhận chứng đắc đến cảnh giới này. Nhưng hình như sau đó họ đã gặp khá nhiều trở ngại! Thấy đó mới biết lời chư Tổ khuyến cáo không sai!

Tổ Ấn Quang dạy, phải luôn tự coi mình còn thấp kém. Đây là Ngài nhắc nhở chúng ta đó. Ngài nói vãng sanh là do lòng thành kính mà cảm đến Phật lực gia trì,vậy thì thành tâm niệm Phật là hay hơn. Chư Tổ còn dạy, hãy nhìn những điều tốt, đừng nhìn điều xấu, cố gắng xét lỗi mình, chớ nói lỗi người, để tránh bớt nghiệp, giữ tâm thanh tịnh. Cứ thế mà tu, rồi thành tâm niệm Phật cầu vãng sanh.

Và hơn nữa, hãy chuẩn bị thật kỹ người hộ niệm, thì khi lâm chung mình dễ được an toàn nương theo Phật lực gia trì, 10 niệm vãng sanh thì hay hơn.vậy.


http://bhnhoasendn.vn/Document/DieuAmHoiDap.aspx

Được gửi bởi Chân Diệu Mỹ (Guest) vào 09/25/2011
Diệu Âm góp ý kiến rằng,

Niệm Phật cò rất nhiều phương pháp, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và khuyết điểm riêng. Có người thích cách này, cò người thích cách khác. Không có cách nào là tuyệt đối ứng hợp với tất cả mọi người. Cho nên, đạo hữu thấy phương cách của Thầy Ngộ Thông hướng dẫn làm cho đạo hữu thấy cảm ứng thì hãy theo cách của Thấy.

Từ trước tới nay, chư Tổ đều chế ra khá nhiều cách để đáp ứng những cảm ứng khác nhau. Có người niệm chậm mới nhiếp tâm, có người niệm nhanh mới nhiếp tâm, có người niệm theo âm điệu mới thấy cảm ứng, có người cần niệm đơn giản từng tiếng rõ ràng mới cảm ứng, có người thích phương pháp "Phản văn trì danh", có người thích "Kim Cang trì danh", v.v... Tất cả đều do sự ứng hợp riêng, chứ không thể nói cách này là nhất, cách kia là nhì được.

Theo như đạo hữu nói thích niệm nhanh. Điều này tốt, Ngài Ấn Quang chủ trương Kim Cang Trì Danh, nghĩa là niệm rất nhanh, hai môi đánh nhẹ hai hàm răng và tiếng rất khẽ để niệm thật nhanh, mỗi ngày niệm 50 ngàn câu Phật hiệu.

Còn như Ngài Phi Tích thì dùng hơi thở để niệm, nghĩa là thở vào: A-di-đà Phật, thở ra: A-di-đà Phật, còn thở còn niệm, cách niệm này không thể nhanh được. Ngaì Ngẫu Ích Đại Sư thì dạy cần thành tâm, chí thành, chí thiết niệm cho sâu chứ không cần niệm nhanh. Chủ đích của Ngaì là niệm sâu, chứ không phải niệm nhiều.

Niệm nhanh để các tạp niệm không xen tạp vào, dễ tạo công phu thành thục và bắt cả ngày phải bám sát theo câu Phật hiệu vì phải xong công cứ. Nhưng niệm nhanh cũng có khuyết điểm là rất dễ thành niệm láo, niệm như cái máy, ưa tính số nhiều chứ không đủ phẩm chất, v.v...

Niệm chậm thì tiếng rõ ràng, lắng nghe rõ tiếng niệm, chủng tử rõ ràng, tâm thành kính, trang ngiêm, hành giả càng ngày càng điềm đạm, v.v... Nhưng nó cũng có khuyết điểm là không có sức đẩy mạnh, dễ lười biếng, dễ có tạp niệm xen vào, v...v...

Nói chung, mỗi cách đều có chỗ hay, và chỗ yếu. Các vị tu hành cao thường điềm nhiên tự tại, trong tâm thầm niệm Phật, còn người phàm phu của chúng ta thường nên kết bè với nhau niệm ra tiếng để hỗ trợ nhau mới tốt.

Phương pháp niệm Phật địa chung là cách công phu chính yếu của Hộ Tịnh Tông thế giới đang áp dụng, Nó giống một phần ngắn trong "Tam thòi hệ niệm Pháp sự" do ngài Trung Phong Quốc Sư lập ra từ đời nhà Nguyên. Cách công phu này khá hay, phổ dụng cho tất cả mọi người, ai tham gia cũng cảm thấy hoan hỉ. Thời gian 3 giờ trôi qua một cách thoãi mái, không quá gò ép, không quá căng thẳng, tư thế cộng tu thay đổi liên tục nhưng không mất cảnh trang nghiêm, nhất là sự sử dụng pháp khí rất hay.

Còn phương pháp đánh nhịp của Thầy Ngộ Thông, tình thực Diệu Âm chưa biết qua, nhưng cũng có nhiều người tán thán lắm. Vì trong những năm qua, Diệu Âm theo tu chung vói đại chúng của Tịnh Tông Học Hội nên chỉ biết có cách tu theo địa chung, còn ngày thường thì kinh hành niệm Phật, nên không biết làm sao so sánh.

Nói chung tất cả đều tùy duyên, hãy để tự mỗi người tìm lấy phương thức tu thích hợp nhất của họ thì được nhiều thiện lợi... Người thích niệm chậm nên kết nhóm niệm chậm. Người thích niệm nhanh nên thành lập nhóm liên hữu niệm nhanh để hỗ trợ nhau. Mục đích chính vẫn là niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, đều tốt cả.

Cố gắng giúp đỡ nhau, khuyến tấn nhau để cùng nhau tu học. Đây chỉ là phương tiện tạo tư lương để vãng sanh, chứ không phải là mục đích.

Nghĩa là, người niệm chậm không nên chê người niệm nhanh. Ngưòi niệm nhanh không được khinh thường ngưòi niệm chậm. Nếu chê bai nhau thì chúng ta bị phạm vào Chấp Trước. Nhất định không tốt!

Còn một vấn đề khác đạo hữu nêu ra là "Nhật tâm bất loạn", xin thưa rằng cảnh giới này trước đây Diệu Âm cũng từng lầm lẫn qua, cứ tưởng rằng một vài phút tâm hồn an tịnh nào đó thì cho là "Nhất tâm bất loạn". Nhưng sau này hiểu ra thì không phải vậy đâu.

Nhất tâm bất loạn là cảnh giới chứng đắc cao lắm, có lẽ rằng trong đời này, như sức





Gửi ý kiến



Tên của bạn


Email của bạn



Đánh giá (tùy ý)
















Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.







Sắp theo Tiêu đềNgàySố lần xemĐánh giáTăng dầnGiảm dần







● HỘ NIỆM: HƯỚNG DẪN, KHAI THỊ - Cư Sĩ Diệu Âm(08/12/2012) (Xem: 889)






● THIỆN CĂN, PHƯỚC ĐỨC VÀ NHÂN DUYÊN - Cư Sĩ Diệu Âm(08/12/2012) (Xem: 715)






● 48 TỌA ĐÀM VỀ HỘ NIỆM: KHẾ LÝ KHẾ CƠ - Cư Sĩ Diệu Âm(08/12/2012) (Xem: 1410)






● NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT HỘ NIỆM VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG - Ấn Quang Đại Sư(04/06/2012) (Xem: 1829)






● SỰ KIỆN QUAN TRỌNG NHẤT TRONG CUỘC ĐỜI - Pháp Sư Tịnh Không(04/04/2012) (Xem: 4546)






● TRỢ NIỆM LÚC LÂM CHUNG - Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa dịch(04/04/2012) (Xem: 1404)






● HỘ NIỆM LÀ MỘT PHÁP TU - Cư Sĩ Diệu Âm (Úc Châu)(02/22/2012) (Xem: 4546)






● "HỎI ĐÁP TRỢ NIỆM KHI LÂM CHUNG" - Pháp Sư Tịnh Không(12/01/2011) (Xem: 6702)






● MỘT CÁCH "Ý TRÌ" DỄ ĐẾN KẾT QUẢ “nhất niệm bất loạn” để đi đến “nhất tâm bất loạn” - Người viết: Trần đức Hân,(09/25/2011) (Xem: 3295)






● LUẬN VỀ VẤN ĐỀ HỘ NIỆM LÚC LÂM CHUNG THEO KINH TẠNG NIKAYA - Chúc Phú(08/10/2011) (Xem: 8188)






● BA BÀI KHAI THỊ CHO OAN GIA TRÁI CHỦ - Pháp Sư Tịnh Không(07/14/2011) (Xem: 4661)






● GIẢI ĐÁP THẮC MẮC - Cư Sĩ Diệu Âm (Úc Châu)(07/13/2011) (Xem: 8114)






● ĐIỀU KHẨN YẾU SAU KHI MÃN PHẦN - Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm(07/13/2011) (Xem: 2475)






● NHỮNG DỰ BỊ CẦN THIẾT CHO LÚC LÂM CHUNG - Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm(07/13/2011) (Xem: 2261)






● QUY TẮC TRỢ NIỆM LÂM CHUNG VÀ PHÁP NGỮ KHAI THỊ - Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam(07/13/2011) (Xem: 3508)






● SỰ KHẨN YẾU LÚC LÂM CHUNG - Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm(07/13/2011) (Xem: 2464)






● SỰ KIỆN QUAN TRỌNG NHẤT CUỘC ĐỜI - Pháp Sư Tịnh Không(07/13/2011) (Xem: 7314)






● TRỢ NIỆM VÀ CHUẨN BỊ KHI LÂM CHUNG - Pháp Sư Tịnh Không (Tỳ Kheo Thích Nhuận Nghi biên soạn)(07/13/2011) (Xem: 2953)






● LÂM CHUNG TAM ĐẠI YẾU QUYẾT - Ấn Quang Đại Sư(07/13/2011) (Xem: 2640)






● HỘ NIỆM VÀ KHAI THỊ CHO NGƯỜI LÂM CHUNG - Ấn Quang Đại Sư(07/13/2011) (Xem: 2968)






● LÂM CHUNG NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT - Nguyên tác: Pháp Sư Thế Liễu Soạn dịch: Thích Nguyên Liên(07/07/2011) (Xem: 3154)






● LỜI NÓI ĐẦU(07/07/2011) (Xem: 3565)






● KHUYÊN NGƯỜI NIỆM PHẬT - Cư Sĩ Diệu Âm (Úc Châu)(07/06/2011) (Xem: 15434)






● CHẾT AN LẠC TÁI SINH HOAN HỶ - Tulku Thondup - Việt dịch: HT. Thích Như Điển & TT. Thích Nguyên Tạng(06/16/2011) (Xem: 37400)






● PHÙ TRỢ NGƯỜI LÂM CHUNG - Đại sư Dagpo Rinpoche; Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch(02/18/2011) (Xem: 13251)






● HỘ NIỆM LÚC LÂM CHUNG Tỷ kheo Tai Kwong -Minh Phú lược dịch(11/07/2010) (Xem: 23056)






● Ý NGHĨA VÃNG SANH - Thích Viên Giác(10/18/2010) (Xem: 9889)






● Cách Trợ Niệm Cho Người Khi Lâm Chung - Pháp Sư Tịnh Không(08/03/2010) (Xem: 16025)




Sắp theo Tiêu đềNgàySố lần xemĐánh giáTăng dầnGiảm dần















Copyright © 2012 www.thuvienhoasen.org All rights reserved



Best viewed with FireFox, Chrome, Safari, Opera, IE 8 at resolution of 1024x768








MỘT CÁCH "Ý TRÌ" DỄ ĐẾN KẾT QUẢ
“nhất niệm bất loạn” để đi đến “nhất tâm bất loạn”
Người viết: Trần đức Hân



I) Niệm và niệm Phật:

Niệm:

Là nhớ nghĩ đến

Là chú tâm, là tỉnh giác,là quán chiếu…

Phật:

Là tự tâm trong sáng, thanh tịnh, thường tịch quang, Như Lai tạng tánh, Phật tánh…v..v….

Niệm Phật:

Niệm Phật không phải chỉ là đọc, tụng ê a danh hiệu ông Phât nào đó; Mà niệm Phật là hành giả có tâm ý nhớ nghĩ đến, chú tâm, tỉnh giác mà quán chiếu tự tánh, Phật tánh của mình.

Pháp môn nào cũng quán chiếu tự tâm, trở về tự tánh là then chốt. Hành trì bất cứ pháp môn nào, hành giả cũng không thể rời niệm Phật, nghĩa là không rời công việc làm thế nào để trở về giác hải. Nói đơn giản, nói gọn thì:

đạo Phật là đường lối trở về Giác Tánh.

Niệm Phật là ý niệm, ý muốn…trở về Giác Tánh

Đọc tụng ê a một danh hiệu Phật (trì danh) chỉ là một cách hành trì, cũng giống như cách biết rõ hơi thở ngắn dài, thở bằng màng cách mô, cũng giống cách trì một câu chú.

Thiền, Tịnh độ, Mật …Hành giả tu theo pháp môn nào cũng đang từng giậy, từng phút niệm Phật, đang tiến thẳng trên con đường trở về nhà (Giác tánh).

Tu pháp môn nào thì quán chiếu tự tâm cũng là then chốt. Tám mươi bốn ngàn cánh cửa vào nhà Phật Tâm, Phật Trí, cửa nào cũng có then chốt “Quán Tự Tại”. Phải là Quán Tự Tại Bồ Tát, phải thành Phật Giác Hoa Định Tự Tại. Định cái tâm ý trong ta bây giờ và tại đây đó chính là niệm Phật.

Nhưng theo thói quen hễ nói đến hai chữ “niệm Phật” là óc cứ liên tưởng đến việc phát âm “Nam mô A Di Đà Phật” họặc “ A Di Đà Phật” hoặc đọc hay trì tụng một danh hiệu Phât.

Óc cũng có thói quen liên tưởng đến “nhất tâm bất lọan” mà pháp môn tịnh độ thường đề cập đến.

II) Liên quan của tâm và não bộ:

Pháp môn nào cũng có chung một trọng tâm là tu tâm. Nói đến tâm lại liên quan đến nhiều chức năng của não bộ. Vậy cũng nên hiểu sơ qua não bộ.

Nói là tu tâm mà kỳ thực trong sáu loại tâm(1) được định nghĩa, đa số có liên hệ đến sự vận hành của não bộ. Tôi xin phép trích ra đây một đoạn của tập san Thiền Tánh Không.

Bộ não có nhiều chức năng, xin tạm kể:
•Ý thức phân biệt, ý căn suy nghĩ, trí năng suy luận, ký ức ghi nhớ.
•Vùng giác tri tâm linh, tánh giác gồm có tánh thấy, tánh nghe, tánh xúc chạm và tánh nhận thức biết (không lời).
•Đường mòn ngôn ngữ gồm có: Vùng kiến giải tổng quát (Wernicke), vùng giải mã (Broca) vùng nói (trên thùy đỉnh) vùng cơ chế phát ngôn. (miệng lưỡi, cổ họng, dây âm thanh, âm quản hay thanh quản).
•Hệ thống viền não (để nhớ).
•Như vậy Tâm không ở nơi tim mà gá nương ở nơi não. Não đảo điên Tâm điên đảo. Não an tịnh Tâm thảnh thơi.

Tóm tắt là phải khởi sự bằng cách làm sao cho não bộ được an tịnh.

Bằng Điện não đồ, các nhà não học ghi nhận được những loại điện thế (action potentials) từ bên trong tế bào não (neurons) phát ra và truyền đi trong trục thần kinh não (axon). Dạng điện này được gọi là sóng não.
Có tất cả 4 loại dạng sóng não: Beta, Alpha, Theta, và Delta.

Sóng yên, óc tịnh, tâm thảnh thơi trong sáng.

Quan sát từ diện não đồ, hành giả nhận ra rằng tu theo pháp môn nào, hành giả cũng muốn làm cho sóng yên, óc tịnh, tâm thảnh thơi trong sáng. Có nghĩa là các làn sóng trong não bộ phải giảm dần từ dạng beta xuống alpha, xuống theta, xuống delta.

III) Phương pháp “niệm ý trì”

Niệm Phật ý trì là một cách trì danh niệm Phật. Hành giả tịnh tông niệm danh hiệu Phật A Di Đà, đã rõ biết thế nào là trì danh. Nơi đây tôi chỉ lặp lại những điều mà quý vị đã biết để cùng nhau ôn tập. Các loại trì danh:

Cao thanh trì danh, đê thanh trì danh, kim cang trì danh, mặc trì, ý trì.

Nguyên tắc niệm ý trì: (niệm trong óc)

Niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Hành giả chọn theo ý muốn của mình, niệm sáu chữ “Nam mô A Di Đà Phật”, hay niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”. Niệm Phật trong óc. Đại đức Thích Minh Tuệ viết rõ ràng trong quyển sách “bất niệm tự niệm…”, có đăng trong TVHS.

Ưu điểm của niệm ý trì:

Hành giả không bị hao hơi, tránh tình trạng bị bịnh lao. Ý trì cắt giảm rất nhiều những làn sóng vận hành trong óc. Những làn sóng từ trung khu vận động ra lệnh cho các bắp thịt của môi, lưỡi, răng, lợi, phổi, cách mô, thanh quản, khiến các băp thịt co thắt thế nào để âm thanh phát ra to, nhỏ, tr òn đầy…Số lượng sóng não giảm đi, đương nhiên óc sẽ yên tịnh hơn. Đạo hữu nào muôn đào sâu về khoa học não bộ thì có thể tìm học với thiền tánh không. Trên thực tế, nhiều đạo hữu đã về chùa Tịnh Luật ở Waller, TX, tu tập với Đ Đ Thích Minh Tuệ đã có những thành công thấy rõ trên nếp sống hiền hòa hơn, tươi vui hơn của họ. Đó là thành quả hiện thấy mà chúng ta có thể dựa vào để đánh giá (hiện lượng).

Khuyết điểm của ý trì: hành giả dễ buồn ngủ.

Phương pháp luyện tập:

1) Niệm bằng ý.

Thoat đầu niệm ra tiếng, tiếp đó hạ dần âm thanh, niệm nhỏ dần, từ cao thanh xuống đê thanh, xuống kim cang trì danh, xuống mặc trì rồi xuống ý trì (niệm bằng óc). Nếu không quen thì viết mấy chữ “A Di Đà Phật” và đọc nó bằng ý. Trong đạo tràng, dùng tiếng mõ để diều khiển. Tiếng mõ lớn, niệm to, tiếng mõ nhỏ dần, niệm nhỏ dần, tiếng mõ tắt (không tiếng mõ), ý trì. Thời gian ý trì cho hành giả mới tập kéo dài độ năm phút. Thời gian ý trì này cứ tăng dần lên, thời gian niệm ra tiếng ít dần đi.

2) Dùng CD làm trợ huấn cụ.

CD này là dĩa chỉ phát âm thanh. Âm thanh niệm “A Di Đà Phật” không liên tục từ đầu đến cuối mà có tiếng rồi im lặng, có tiếng rồi im lặng. Cứ lặp lại như thế. Quý vị tự mình làm một cái CD, để có giọng đọc của chính mình. Nghe giọng của mình và trì tụng theo nhịp điệu của mình thì lợi lạc hơn. Nếu không tự thu âm không tự làm CD được thì chọn dùng CD nào đó mà mình thích.

Cách làm CD:

Thu âm:

“A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, ………………………………………… …

“A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”,

………………………………………… “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”, “A Di Đà Phật”,

………………………………………… .4 danh hiệu phát âm, tiếp theo là khoảng yên lặng kéo dài độ 30 giây hoặc 60 giây. Cái gạch ……….. dài ở trên là khoảng trống, im lặng.

Cách dùng CD:

Bỏ CD vào máy, niệm ý trì theo nhịp diệu mà máy phát âm. Khi máy chạy qua phần im lặng, hành giả vẫn tiếp tục ý trì. Nói cách khác là mở máy nghe CD, dù cho maý phát âm hay không phát âm, hành giả cứ tiếp tục ý trì liên tục, không gián đoạn, không xen tạp (trong óc không có một niệm nào khác xen tạp).

IV) Nhất niệm bất loạn và nhất tâm bất loạn.

Hành giả tu tập pháp môn tịnh độ đều muốn đạt đến “nhất tâm bất loạn”. Đạt đến trình độ này không biết có mấy ai. Phương pháp niệm ý trì bằng cách dùng CD này có thể giúp hành giả “nhất niệm không xen tạp” trong 60 giây đồng hồ. Máy lại phát ra độ bốn câu để đưa hành giả về với tỉnh giác về với ý tưởng niệm Phât. Hành giả qua được cái cầu môt phút không xen tạp. Máy không ngừng, nó nhắc hành giả qua phút kế tiếp….Cứ như thế mà tập niệm “A Di Đà Phật” hoặc “Nam mô A Di Đà Phật”.

Trong lợi lạc cũng có cái bất lợi, đó là sự quấy nhiễu. Nếu mở âm thanh máy quá lớn, sẽ làm giật mình trong lúc tâm đang yên định. Để tránh chuyện này xảy ra, để máy xa chỗ ngồi hành trì và mở âm thanh vừa đủ nghe. Khi ý trì nên niệm đúng nhip điệu của máy để âm thanh phát ra từ máy không chống chõi, không trật nhịp với tốc độ mình đang ý trì. Người mới tập ý trì, khi máy phát âm, có thể dùng ngón tay gõ nhịp, tựa hồ đánh mõ, và tiếp tục nhip ngón tay khi máy im lặng, để ý trì đúng theo nhịp điệu. Khi thuần thục, hành giả nên bỏ nhịp ngón tay. Còn nhịp ngón tay là còn phan duyên (ngoại duyên).

Sáu mươi giây óc không xen tạp, óc chỉ thuần nhất một niệm “A Di Đà Phật”. Đạt được 60 giây, tiếp theo 60 giây, tiếp theo 60 giây.

“Óc không xen tạp” tiếp đến óc được “nhất niệm bất loạn” là những nấc thang để tiến đến “nhất tâm bất loạn”.

Đến một lúc, hành giả sẽ buông bỏ CD.

Trong khóa tu Phật thất vừa qua, Đ Đ Thích Minh Tuệ áp dụng cách ý trì với sự trợ giúp của CD này, kết quả thật khả quan cho học viên. Tôi viết ra đây chỉ là hoan hỷ, tán thán thành công của thầy đã tìm ra phương pháp mới để huấn luyện. Riêng phần cá nhân tôi, nếu cái CD im lặng độ năm phút thì tạp niệm vào óc như thác. Nhưng cứ từng phút; Tôi vượt qua từng phút không thấy khó khăn. Cứ chăn trâu từng phút rồi từng phút….Và… thành tâm chúc các bạn thành công.

Phụ ghi:

(1) Tâm chỉ toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm tri.

Có sáu loại tâm:

1) Trái tim

2) Cái tinh hoa, cốt lõi, trung tâm điểm

3) Cái tuyệt đối, chân như Hrdaya (S)

4) Duyên lự tâm, ý thức (manovijnanana (S). Thức thứ 6

5) Tư lượng tâm Mạt na thức, (manas) (S). Thức thứ 7 (chấp ngã)

6) Tập khởi tâm, alayavijnana (S) chứa các chủng tử, tập tành, huân tập. Thức thứ 8

Bài viết cùng chuyên mục: