MƯỜI NGUYỆN PHỔ HIỀN
(nguyên tác: Phổ Hiền Đại Sĩ Hạnh Nguyện Đích Khải Thị)
Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
(dịch theo bản in của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001)

MƯỜI NGUYỆN PHỔ HIỀN
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát xưng thán Như Lai thắng công đức dĩ, cáo chư Bồ Tát cập Thiện Tài ngôn:
- Thiện nam tử! Như Lai công đức, giả sử thập phương nhất thiết chư Phật, kinh bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số kiếp, tương tục diễn thuyết, bất khả cùng tận. Nhược dục thành tựu thử công đức môn, ưng tu thập chủng quảng đại hạnh nguyện. Hà đẳng vi thập?
Nhất giả, lễ kính chư Phật.
Nhị giả, xưng tán Như Lai.
Tam giả, quảng tu cúng dường.
Tứ giả, sám hối nghiệp chướng.
Ngũ giả, tùy hỷ công đức.
Lục giả, thỉnh chuyển pháp luân.
Thất giả, thỉnh Phật trụ thế.
Bát giả, thường tùy Phật học.
Cửu giả, hằng thuận chúng sanh.
Thập giả, phổ giai hồi hướng.
(Lúc bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát khen ngợi công đức thù thắng của đức Như Lai xong, bảo các Bồ Tát và Thiện Tài[1] rằng:
- Này thiện nam tử! Công đức Như Lai giả sử mười phương hết thảy chư Phật trong các số kiếp[2] nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết[3] Phật sát[4], diễn nói liên tục, cũng chẳng thể nói cùng tận. Nếu muốn thành tựu môn công đức này, hãy nên tu mười thứ hạnh nguyện rộng lớn. Những gì là mười?
Một là lễ kính chư Phật.
Hai là xưng tán Như Lai.
Ba là rộng tu cúng dường.
Bốn là sám hối nghiệp chướng.
Năm là tùy hỷ công đức.
Sáu là thỉnh đức Phật chuyển pháp luân.
Bảy là thỉnh đức Phật ở lại nơi đời.
Tám là thường học theo đức Phật.
Chín là hằng thuận chúng sanh.
Mười là hồi hướng khắp tất cả).

“Phổ Hiền Bồ Tát khen ngợi công đức thù thắng của Như Lai xong”: đây là câu để tiếp ý quyển trước. Phẩm này thuộc quyển thứ bốn mươi. Nửa phần sau quyển thứ ba mươi chín là bài kệ tụng rất dài của Phổ Hiền Bồ Tát ca ngợi công đức thù thắng của Như Lai. Chữ “Như Lai” ở đây chỉ chân tâm tự tánh của mỗi người chúng ta, công đức của chân tâm mỗi người chúng ta là vô lượng vô biên; lời ca tụng của Phổ Hiền Bồ Tát chỉ là một giọt nước trong biển cả đó thôi. Phổ Hiền Bồ Tát nói nhiều như vậy cũng nói không hết, mới chuyển đề tài, bảo cùng các Bồ Tát trong hội và Thiện Tài rằng: “Công đức Như Lai giả sử mười phương hết thảy chư Phật trong các số kiếp như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát, diễn nói liên tục, cũng chẳng thể nói cùng tận”.
Một câu nói của Phổ Hiền Bồ Tát đã vạch trần chỗ hay của việc thành Phật. Công đức của tự tánh chúng ta, mười phương hết thảy chư Phật trải vô lượng kiếp cùng xưng nói cũng chẳng thể nói hết được. Học Phật là để minh tâm kiến tánh, kiến tánh bèn thành Phật; phải làm sao cho vô lượng vô biên công đức trong tự tánh chúng ta đều hiện tiền, đều hưởng được tác dụng của những công đức đó. Tự tánh khởi tác dụng thì có ích lợi gì? Khiến cho chúng ta ngay trong một đời này đạt được hạnh phúc, khoái lạc chân chánh, vĩnh viễn chẳng có phiền não, chẳng khởi vọng tưởng, gia đình mỹ mãn, sự nghiệp thuận lợi, xã hội yên ổn, tốt đẹp, thế giới hòa bình; những lợi ích nhỏ nhặt như thế đều có thể đạt được. Lợi ích lớn nhất là trường sanh bất lão, vĩnh viễn chẳng chết. Đấy đều là những lợi ích công đức sẵn có nơi tự tánh. Chẳng thể không học Phật pháp là do lý do này, vì thế nhất định phải nỗ lực tu học. Câu nói này của Phổ Hiền Bồ Tát khiến chúng ta nhận thức rõ: Công đức của tự tánh chẳng thể nghĩ bàn.
Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo cùng chúng ta: Muốn chứng đắc công đức của tự tánh thì phải tu mười thứ hạnh nguyện rộng lớn, công đức của tự tánh mới hiện tiền viên mãn. Trong năm khoa mục Tịnh Tông Học Hội thực hành thì khoa mục cuối cùng là mười đại nguyện vương. Mười đại nguyện vương là tầng lầu thứ năm, là tột đỉnh viên mãn. Tầng thứ năm cất dựa trên tầng thứ tư; tầng thứ tư là Bồ Tát Lục Độ. Tầng thứ ba là Tam Học Giới - Định - Huệ. Tầng thứ hai là Lục Hòa Kính. Tầng thứ nhất là ba phước. Ba phước là cơ sở. Cứ y chiếu theo phương pháp này mà nỗ lực tu học thì ngay trong một đời sẽ đạt đến cảnh giới viên mãn.

1.1. Nguyện thứ nhất: Lễ kính chư Phật
Chánh kinh:
Thiện Tài bạch ngôn:
- Đại Thánh! Vân hà lễ kính, nãi chí hồi hướng?
Phổ Hiền Bồ Tát cáo Thiện Tài ngôn:
- Thiện nam tử! Ngôn lễ kính chư Phật giả: Sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết Phật sát, cực vi trần số chư Phật Thế Tôn, ngã dĩ Phổ Hiền hạnh nguyện lực cố, thâm tâm tín giải, như đối mục tiền, tất dĩ thanh tịnh thân ngữ ý nghiệp, thường tu lễ kính. Nhất nhất Phật sở, giai hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số thân; nhất nhất thân biến lễ bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số Phật.
Hư không giới tận, ngã lễ nãi tận. Dĩ hư không giới bất khả tận cố, ngã thử lễ kính vô hữu cùng tận. Như thị nãi chí chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã lễ nãi tận, nhi chúng sanh giới nãi chí phiền não vô hữu tận cố, ngã thử lễ kính vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Thiện Tài bạch rằng:
- Thưa đại thánh! Thế nào là lễ kính cho đến hồi hướng?
Phổ Hiền Bồ Tát bảo Thiện Tài rằng:
- Này thiện nam tử! Nói “lễ kính[5] chư Phật” là: [Đối với ] chư Phật Thế Tôn nhiều như số cực vi trần trong tất cả hết thảy cõi Phật tột cùng pháp giới, hư không giới[6], mười phương ba đời, tôi do sức hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm tín giải[7], như đối trước mắt, đều dùng thân ngữ ý nghiệp thanh tịnh, thường tu tập sự lễ kính. Nơi mỗi một đức Phật, đều hiện thân như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, mỗi một thân lễ khắp chư Phật nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật.
Hư không có tận, sự lễ kính của tôi mới tận. Vì hư không chẳng thể tận nên sự lễ kính này của tôi chẳng có cùng tận. Như thế cho đến chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự lễ kính của tôi mới tận. Nhưng chúng sanh giới cho đến phiền não chẳng có cùng tận, nên sự lễ kính này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng hề gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt chán).

Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng là hiếu kính; hiếu kính đến mức viên mãn rốt ráo là lễ kính chư Phật. Trong Đại Thừa Giới Kinh, đức Phật khai thị rõ ràng: “Hiếu thuận phụ mẫu, sư tăng, hiếu thuận với hết thảy chúng sanh. Hiếu gọi là Giới”. Giới luật Đại Thừa tạo dựng trên cơ sở hiếu đạo. Chữ Hiếu thuộc loại Hội Ý: phía trên là chữ Lão, phía dưới là chữ Tử, ghép thành chữ Hiếu. Trong chữ Hiếu, các đời tương thông, đời chữ Lão và đời chữ Tử cùng một thể. Một đời trên (Lão) còn có một đời trên nữa, quá khứ vô thỉ; một đời dưới lại có một đời dưới nữa, vị lai vô chung. Vô thỉ vô chung là một chỉnh thể. Nhìn theo chiều dọc, tổ tiên và con cháu đời sau là một thể; nhìn theo chiều ngang là anh em, thân thích, bè bạn; anh em của anh em, thân thích của thân thích, bè bạn của bè bạn, ngang khắp mười phương. Dọc suốt ba đời, ngang cùng mười phương là toàn thể của pháp giới. Chữ Hiếu là một phù hiệu tiêu biểu toàn thể pháp giới. Chỉ có thành Phật mới có thể tột cùng viên mãn đạo Hiếu.
Vì sao chúng ta phải học Phật? Vì chúng ta muốn viên mãn tột cùng đạo Hiếu, vì biết tận hư không, khắp pháp giới chỉ là chính mình mà thôi! Bởi thế, chính Phổ Hiền Bồ Tát tự nói: Muốn “lễ kính chư Phật” thì phải sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có thể viên mãn được nguyện ấy. Phổ Hiền Bồ Tát là một nhân vật đại biểu cho những người vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới trong mười phương thế giới. Phổ Hiền Bồ Tát còn như thế, huống gì chúng ta? Chúng ta muốn viên mãn tột cùng đạo Hiếu, chỉ còn cách noi theo Phổ Hiền Bồ Tát; không noi theo Ngài mà toan thành Phật, chẳng có hy vọng gì đâu!
Trong kinh Phật dạy, từ Sơ Phát Tâm cho đến khi thành Phật là ba đại A Tăng Kỳ kiếp, trong quá khứ chúng ta đã tu cả vô lượng A Tăng Kỳ kiếp, cớ sao chẳng thành Phật? Là vì phiền não không đoạn, đời đời luân hồi lục đạo. Nhận thức Tịnh Độ từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta biết kinh Hoa Nghiêm cuối cùng là niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, vì thế ta mới chết một lòng khăng khắng niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Phổ Hiền Bồ Tát độ chúng ta vậy.
Lễ kính chư Phật, chư Phật là ai? Phật dạy minh bạch: “Hết thảy chúng sanh vốn là Phật”; phàm các hiện tượng do các duyên hòa hợp mà sanh khởi thì gọi là “chúng sanh”. Chúng ta nghĩ coi: Có pháp nào chẳng phải là do các duyên hòa hợp sanh ra hay không? Chỉ có hư không mới chẳng phải là do các duyên hòa hợp sanh ra. Thân thể của chúng ta, khăn mặt, giảng đường đều là do các duyên hòa hợp sanh ra, đều gọi là chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm có một câu rất trọng yếu như sau: “Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí”. Tình là hữu tình chúng sanh, chỉ động vật, hữu tình chúng sanh trong mười pháp giới. Vô Tình là vô tình chúng sanh, chỉ thực vật, khoáng vật. “Đồng viên chủng trí” là thành Phật. Hữu tình chúng sanh có thể tu hành, có thể niệm Phật, có thể thành Phật, còn vô tình chúng sanh làm sao thành Phật được? Khăn mặt, bàn ghế, khi nào chúng mới thành Phật?
Giờ đây nhờ phẩm Hạnh Nguyện này chúng ta mới vỡ lẽ: hữu tình chúng sanh là chư Phật, vô tình chúng sanh cũng là chư Phật. Khi nào vô tình thành Phật vậy? Y báo chuyển theo chánh báo. Ngày nào chúng ta thành Phật, liền nhận thấy sơn hà đại địa, hết thảy cỏ cây, vi trần thảy đều thành Phật cả, đó là hiện tượng thành Phật. Nếu ngày nào tự thấy mình thành Phật, thấy người khác vẫn chưa thành Phật, thì nói thật ra, quý vị đang nằm mộng, quý vị khởi vọng tưởng, chắc chắn chẳng phải là thành Phật. Những điều kinh Hoa Nghiêm dạy hoàn toàn là cảnh giới hiện lượng của Phật, Bồ Tát, là những điều các Ngài chính mắt thấy, chính tai nghe, hoàn toàn là chân tướng sự thật, chẳng phải là cảnh giới của phàm phu.
Làm thế nào để học tập pháp môn này? Pháp môn ấy là pháp của Pháp Thân đại sĩ tu tập; chúng ta là phàm phu, một phẩm phiền não chưa đoạn, chúng ta có thể tu được chăng? Được chứ! Sách giáo khoa thuộc phân ban tiến sĩ trong nhà Phật, chúng ta là học trò mẫu giáo cũng áp dụng được, rất kỳ diệu! Kinh điển Phật giáo chẳng thể nghĩ bàn, là kinh điển viên dung. Sách giáo khoa cho kẻ sơ học chính là kinh điển để thành Phật, pháp môn bắt đầu từ việc học cung kính. Dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm cung kính đối đãi hết thảy mọi người, đó là lễ kính chư Phật. Chúng ta đối với Phật, Bồ Tát cung kính phi thường, nhưng đối với người khác kém hơn một tí, thì chẳng phải là hạnh Phổ Hiền. Hạnh Phổ Hiền là hạnh bình đẳng.
Mỗi khóa kinh sáng chúng ta dùng tâm kiền thành cung kính nhất để lễ Phật, sau đấy, dùng cái tâm đó đối đãi người khác. Bất luận đối đãi cha mẹ, người nhà, quyến thuộc, bằng hữu, đồng sự, hết thảy người thiện kẻ ác trong xã hội, đều dùng một tấm lòng chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, cung kính để đối đãi, đó là hạnh Phổ Hiền. Ngoài con người ra, cũng phải dùng cái tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm cung kính để đối đãi hết thảy vạn vật. Khăn mặt là chư Phật, dùng khăn xong đừng vo thành một cục vứt lung tung, phải xả sạch, phơi khô, xếp ngay ngắn, đó là thể hiện lòng cung kính đối với nó. Bàn ghế cũng là chư Phật, phải chùi sạch, xếp ngay ngắn đó là lòng cung kính đối với nó. Đối với sự, bất cứ sự việc nào mình đảm trách cũng phải tận tâm tận lực làm cho viên mãn, đó là cung kính đối với sự, chẳng thể qua loa tắc trách, đừng đùn đẩy lẫn nhau.
Pháp môn này khó, chẳng dễ tu, nó vốn là pháp tu của Đẳng Giác Bồ Tát; chúng ta học lớp mẫu giáo, phải gắng hết sức mình dẫu chưa thể thực hiện viên mãn. Học được một phần là được một phần lợi ích; lợi ích lớn lao chẳng thể nghĩ bàn. Nêu một thí dụ: Nếu có thể dùng cái tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, cung kính để đối đãi người và sự vật thì quý vị vĩnh viễn chẳng sanh phiền não, trong tâm khoái lạc khôn sánh, ngay lập tức đạt được hạnh phúc, khoái lạc. Hiện tại vì sao quý vị chẳng hạnh phúc, sung sướng? Là vì trong tâm quý vị phân biệt kẻ này tốt, người kia xấu, suốt một ngày từ sáng đến tối phân biệt, chấp trước, phiền não vọng tưởng chẳng ngừng, làm sao quý vị hạnh phúc, sung sướng cho được? Nếu muốn tu hạnh phúc, sung sướng thì hạnh Phổ Hiền là nhanh chóng hữu hiệu nhất. Quý vị cứ thử mở rộng tâm lượng đi. Chỉ cần quý vị chân chánh phát tâm, Phổ Hiền Bồ Tát bèn gia trì quý vị. Kinh dạy: “Tôi do sức hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm tín giải, như đối trước mắt”. Thần lực Phổ Hiền Bồ Tát gia trì, chúng ta nỗ lực đôi chút, gắng sức đôi chút, cũng có thể đạt được mấy phần.
“Đều dùng thân ngữ ý nghiệp thanh tịnh, thường tu tập sự lễ kính”: Lễ là lễ mạo, lễ tiết. Chẳng những đối với người phải có lễ, mà đối với vật cũng phải có lễ. Nếu tâm chí thành cung kính, biểu hiện bên ngoài sẽ hợp với lễ tiết. Tâm thanh tịnh là chân tâm, trong tâm thanh tịnh chẳng có thị phi nhân ngã, phân biệt, chấp trước. Bồ Tát dùng tâm thanh tịnh để tu tập lễ kính thường chẳng gián đoạn. Tu học Phật pháp thành hay bại cốt ở tâm nhẫn nại. Có nhiều người lúc mới phát tâm rất dũng mãnh, được mấy ngày bèn ngã lòng. Nếu có thể giữ được cái tâm ban đầu chẳng thoái chuyển thì không có một ai chẳng thành Phật chỉ trong một đời. Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát làm gương, khuyến khích chúng ta phải gìn giữ cái tâm ban đầu. Ngài nói: “Hư không giới tận, sự lễ kính của tôi mới tận”. Hư không giới chẳng thể tận, chúng ta phát nguyện tu đại hạnh Phổ Hiền, cũng chẳng thể thoái chuyển. Ngài lại nói: “Chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự lễ kính của tôi mới tận”. Thế giới nhân khẩu ngày càng tăng trưởng, chúng sanh giới chẳng tận. Phiền não của chúng sanh cũng mỗi ngày một nhiều hơn. Chỉ có học Phật đắc lực, phiền não mới giảm thiểu. Phiền não ít đi, trí huệ bèn tăng trưởng. Phiền não của chúng sanh chẳng thể tận, chúng ta bắt chước Phổ Hiền Bồ Tát lễ kính, đương nhiên cũng chẳng có ngày cùng tận.
Phổ Hiền Bồ Tát lại khuyên lơn chúng ta: “Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn”. Đấy là bí quyết công phu. Người niệm Phật thực hiện được hai câu này trong vòng từ ba tháng đến nửa năm, công phu niệm Phật đắc lực, quyết định đạt được công phu thành phiến. Hai câu này ý nghĩa hoàn toàn tương đồng với câu “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” của Đại Thế Chí Bồ Tát trong hội Lăng Nghiêm.
“Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề chán mệt”: Thân phải thực hiện; chúng ta thấy ai cũng phải lễ kính; ngôn ngữ phải cân nhắc, tâm phải thật sự thanh tịnh, bình đẳng, cung kính. Phổ Hiền Bồ Tát dụng tâm thanh tịnh cho nên chẳng mệt mỏi, chẳng buồn phiền. Chúng ta dụng tâm phân biệt, tâm nhiễm ô, nên trong một thời gian dài sẽ mệt mỏi. Trong công việc hằng ngày dùng tâm thanh tịnh, tâm hoan hỷ, tâm lợi ích chúng sanh mà làm, dù công việc vừa nhiều vừa nặng nề, cũng chẳng thấy mệt mỏi, chán nản. Đó là được mấy phần lợi ích do công phu tu học Phổ Hiền hạnh.
Cảnh giới của Phổ Hiền Bồ Tát rộng lớn, đấy chính là điểm khác biệt so với hạnh của các Bồ Tát khác. Phổ Hiền hạnh là hạnh xứng tánh. Bản tánh Chân Như rộng lớn phi thường, Phật thường nói: “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới” (tâm gồm khắp hư không, lượng trọn các cõi nước nhiều như cát). Mỗi một hạnh nguyện của Phổ Hiền hạnh đều tương ứng với tự tánh; bởi thế, mỗi một hạnh nguyện đều bao trùm hư không pháp giới. Chẳng những tâm địa Phổ Hiền Bồ Tát chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, mà còn rộng lớn vô lượng. Dùng cái tâm như vậy để tu hành thì hạnh môn ấy mới gọi là Phổ Hiền Hạnh!

1.2. Nguyện thứ hai: Xưng tán Như Lai
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn xưng tán Như Lai giả, sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết sát độ, sở hữu cực vi, nhất nhất trần trung, giai hữu nhất thiết thế gian cực vi trần số Phật. Nhất nhất Phật sở, giai hữu Bồ Tát hải hội vi nhiễu. Ngã đương tất dĩ thậm thâm thắng giải, hiện tiền tri kiến, các dĩ xuất quá Biện Tài thiên nữ vi diệu thiệt căn. Nhất nhất thiệt căn xuất vô tận âm thanh hải. Nhất nhất âm thanh, xuất nhất thiết ngôn từ hải, xưng dương tán thán nhất thiết Như Lai chư công đức hải, cùng vị lai tế, tương tục bất đoạn, tận ư pháp giới vô bất châu biến.
Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã tán nãi tận, nhi hư không giới nãi chí phiền não vô hữu tận cố, ngã thử tán thán vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Lại nữa thiện nam tử! Nói “xưng tán Như Lai” là: Tất cả cực vi trần trong tất cả hết thảy cõi nước cùng tận pháp giới, hư không giới, mười phương ba đời. Trong mỗi một vi trần đều có chư Phật nhiều như số cực vi trần trong hết thảy thế gian, nơi mỗi đức Phật đều có hải hội[8] Bồ Tát vây quanh. Tôi sẽ đều dùng sự hiểu biết thù thắng[9] rất sâu, tri kiến hiện tiền[10], [trước mỗi đức Phật] đều hiện lưỡi vi diệu hơn lưỡi của Biện Tài thiên nữ[11]. Mỗi một lưỡi phát xuất vô tận biển âm thanh. Mỗi một âm thanh phát xuất hết thảy biển ngôn từ, xưng dương tán thán biển công đức của hết thảy Như Lai đến cùng tận đời vị lai liên tục chẳng ngừng, tột cùng pháp giới không đâu chẳng trọn khắp.
Như thế hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, tôi khen ngợi mới tận. Nhưng vì hư không giới cho đến phiền não chẳng có cùng tận, sự tán thán này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt chán)

Như Lai khác với chư Phật như thế nào? Vì sao không nói “xưng tán chư Phật”? Chư Phật và Như Lai có sai khác. Kinh nói Phật, nói đến chư Phật là nói từ mặt Tướng, nói trên mặt Sự. Nói đến Như Lai là nói từ Tánh (bản tánh). Trên mặt sự tướng chúng ta phải bình đẳng cung kính, chẳng phân biệt, chấp trước. Chúng ta tôn kính Phật, Bồ Tát; phàm phu, quỷ thần chúng ta cũng phải tôn kính. Tâm tôn kính và lễ mạo và tôn kính chư Phật chẳng sai khác, cho đến kính sự, kính vật cũng chẳng sai biệt. Đó gọi là “lễ kính chư Phật”.
Xưng tán không giống như thế. Lễ kính là vô điều kiện, xưng tán có điều kiện. Kẻ ác làm chuyện ác, chẳng thể khen ngợi việc họ làm là rất tốt. Sát sanh và trộm cắp cũng chẳng thể khen ngợi. Kẻ sát sanh và trộm cắp chúng ta phải lễ kính, nhưng việc họ làm chúng ta chẳng thể khen ngợi được. Xưng tán là có điều kiện, phải là thiện hạnh và tương ứng với tự tánh thì mới xưng tán. Chẳng tương ứng tự tánh thì chúng ta lễ kính nhưng không xưng tán.
Phương pháp tu hành này có thể thấy từ năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử. Năm mươi ba vị thiện tri thức thị hiện các hạnh, các nghiệp, có những hạnh nghiệp đáng nên tán thán, có những hạnh nghiệp chẳng thể tán thán. Thiện Tài đồng tử lễ kính năm mươi ba vị thiện tri thức, đảnh lễ ba lạy, hữu nhiễu ba vòng, thái độ cung kính hoàn toàn tương đồng như kính Phật và tán thán bọn họ. Thế nhưng, đối với ba người, Thiện Tài chỉ bình đẳng đảnh lễ nhưng không tán thán: Thắng Nhiệt Bà La Môn đại diện cho ngu si, Cam Lộ Hỏa Vương nóng tánh, đại diện cho sân khuể; Phạt Tô Mật Đa nữ là kỹ nữ, đại diện tham ái. Tham - Sân - Si là ba độc phiền não, Thiện Tài chẳng xưng tán.
Xưng tán là khen ngợi cái hay, ngôn hạnh của người đó rất đáng học theo, đáng làm gương cho chúng ta thì mới được đại chúng tán thán. Ngôn hạnh chẳng đáng cho mọi người bắt chước theo thì chẳng thể tán thán. Sự xưng tán của Phổ Hiền Bồ Tát là xứng tánh, chẳng giống với việc khen ngợi bình thường, bởi lẽ dụng tâm chẳng tương đồng, mục đích chẳng tương đồng, cảnh giới cũng chẳng tương đồng, giống như chư Phật khen ngợi nhau. Chủ - bạn chứa đựng lẫn nhau, hết thảy chư Phật cũng khen ngợi lẫn nhau. Kinh A Di Đà vốn là kinh “được hết thảy chư Phật hộ niệm”. Không vị Phật nào chẳng giảng kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ. Giảng kinh là tán thán A Di Đà Phật, tán thán y chánh trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Cùng một đạo lý đó, A Di Đà Phật cũng tán thán mười phương hết thảy chư Phật Như Lai.
Trong Phật pháp thường nói đến pháp môn Tổng Trì, Tổng Trì là nắm giữ vững tổng cương lãnh. Tổng trì tán thán thì ngôn ngữ rất đơn giản nhưng ý nghĩa sẽ viên mãn như giảng kinh. Tổng trì tán thán là chấp trì danh hiệu. Hết thảy các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng trong bốn mươi chín năm đều nằm trong một câu Phật hiệu “A Di Đà Phật”. Niệm câu Phật hiệu này là niệm hết tất cả hết thảy kinh đức Thế Tôn đã giảng trong bốn mươi chín năm, phương tiện đơn giản, mới biết danh hiệu có công đức to lớn như thế. Niệm A Di Đà Phật là xưng tán Như Lai.
Xưng tán Như Lai lại còn có một tầng ý nghĩa sâu phi thường. Như Lai là Chân Như bản tánh. Chân Như bản tánh của hết thảy chư Phật và Chân Như bản tánh của chính chúng ta là một, chẳng phải hai. Xưng tán Như Lai là xưng tán tánh đức của Chân Như bản tánh của chính mình. A Di Đà Phật chính là chúng ta, Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là chính chúng ta, nên nói: “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”. Tự tánh là Như Lai, duy tâm cũng là Như Lai. Niệm Phật là khuôn phép xưng tán Như Lai cao nhất. Niệm kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà cho đến đọc tụng hết thảy kinh điển Đại Thừa đều là xưng tán Như Lai. Chúng ta dùng cái tâm thanh tịnh chân thành rộng lớn khôn sánh để xưng niệm, đọc tụng sẽ tương ứng với nguyện này.
Muốn xưng tán đến mức viên mãn chẳng dễ dàng gì. Dẫu chẳng dễ dàng chúng ta vẫn phải nỗ lực, làm được một phần là tốt một phần. Chân chánh phát tâm tu học sẽ được Phổ Hiền Bồ Tát, A Di Đà Như Lai, hết thảy chư Phật gia trì. Học Phật chẳng những nhằm để chính mình tu học đạt được lợi ích chân thật, mà còn là để báo ân Phật, ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân hết thảy chúng sanh, phải đem những điều hay chân thật phổ biến, đề cao, giới thiệu cho mọi người. Đề cao, giới thiệu là xưng tán Như Lai. Tổ chức pháp hội diễn giảng kinh điển là xưng tán, khuyên người niệm Phật là xưng tán, cho đến tại bất cứ thời gian, địa điểm nào, chúng ta chắp tay niệm một câu A Di Đà Phật đều là xưng tán cả. Xưng tán như thế được oai thần của Phật gia trì, được cảm ứng hiện tiền là biện tài. Trước kia chẳng khéo ăn nói, nay nói rất khéo, đó là Phật lực gia trì. Còn có một sự thật do chính tôi thể nghiệm: Kinh điển Phật pháp (thiện pháp) tôi nói rất dễ, ác pháp một câu nói không được. Với thiện pháp có biện tài, với ác pháp không có vậy!
Cảnh giới của nguyện này cũng rộng lớn giống như nguyện trước. Phổ Hiền Bồ Tát nói: “Xưng dương tán thán biển công đức của hết thảy Như Lai đến tận cùng đời vị lai, liên tục chẳng đoạn, tột cùng pháp giới, không đâu chẳng trọn khắp”. Chúng ta có làm được như thế hay không? Điều này thật sự tùy thuộc tâm lượng của chúng ta. Giống như sóng vô tuyến điện, chỉ cần chẳng bị núi cao ngăn trở, sóng điện phát xạ truyền xa vô lượng vô biên; nếu trong khoảng đó bị chướng ngại thì sóng điện bị gián cách. Tâm của chúng ta cũng giống như thế: Trong tâm có phân biệt, có chấp trước, có phiền não như núi cao, âm ba xưng dương liền bị chướng ngại, bèn có phạm vi, chẳng thể trọn khắp pháp giới tột cùng hư không. Nếu tâm quý vị rất thanh tịnh, chẳng có phân biệt, chấp trước, chẳng có vọng tưởng, công đức xưng dương đúng là trọn khắp pháp giới, tột cùng hư không. Do đây biết rằng: mấu chốt thật sự là Nhất Tâm, dùng ba tâm (tức tâm vọng tưởng, chấp trước, phân biệt) thì chướng ngại trùng trùng, chẳng thể trọn khắp.
Phật dạy chúng ta: Quyền Giáo Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, lục đạo phàm phu đều dùng tám Thức. Tám Thức quy nạp lại là ba tâm hai ý. Ba tâm là A Lại Da Thức, Mạt Na Thức và Đệ Lục Thức. Nhị Ý chỉ Mạt Na Thức (thức căn) và Đệ Lục Thức (ý thức). Chẳng dùng tam tâm nhị ý là dùng Chân Như bản tánh, chỉ cần dùng được Chân Như bản tánh quyết định sẽ trọn khắp pháp giới. Sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch chú giải kinh Lăng Nghiêm của Giao Quang đại sư căn cứ vào nghĩa kinh, dạy chúng ta “bỏ Thức dùng Căn”. Bỏ Thức là trong sanh hoạt thường nhật, thấy Sắc nghe Tiếng chớ dùng tám Thức mà phải dùng Chân Tánh. Phàm phu mắt thấy là dùng Nhãn Thức để thấy, tai nghe là dùng Nhĩ Thức để nghe, tức là dùng sáu Thức. Đại sư dạy chúng ta dùng tánh Thấy để nhìn, dùng tánh Nghe để nghe, xoay trở lại như vậy, lập tức thành Phật. Bỏ Thức, dùng Tánh của Căn. Tánh của Căn là thật, chẳng phải hư vọng. Đại Sư đề xướng rất hay, đích thực là bổn ý giảng kinh Lăng Nghiêm của Thế Tôn, chẳng hiểu sai lạc.
Trong phần Tự, đại sư Giao Quang có kể một câu chuyện đáng cho chúng ta thức tỉnh, học theo. Giao Quang đại sư mắc bệnh nặng, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn Ngài vãng sanh. Công phu niệm Phật chẳng lầm, Phật đến tiếp dẫn, Ngài sực nghĩ các bản chú giải kinh Lăng Nghiêm từ cổ đến nay đều chưa nói lên được bổn ý của Phật. Ngài hướng về A Di Đà Phật xin hẹn, mong ở lại thế gian để viết bản chú giải mới cho kinh Lăng Nghiêm, chú giải xong mới đi. A Di Đà Phật gật đầu cho phép, Sư được lành bệnh. Đó cũng là sanh tử tự tại, đến đi tự do. Bởi thế, âm thanh xưng tán chẳng thể trọn khắp pháp giới thì chúng ta phải coi lại mình đang dùng cái tâm gì. Cổ đại đức dạy chúng ta hai nguyên tắc lớn để học Phật:
1) Nghe kinh phải “tiêu quy tự tánh”: nghe xong phải tương ứng với tự tánh, trọn chẳng được vừa nghe vừa suy nghĩ lung tung.
2) Tu hành chẳng quản là niệm Phật, trì chú hay tham thiền, tám vạn bốn ngàn pháp môn đều phải “chuyển Thức thành Trí”. Đấy cũng như nói chẳng dùng tám Thức, chẳng dùng ba tâm hai ý, phải dùng Tự Tánh, dùng căn tánh của sáu căn vậy.
“Vì hư không giới cho đến phiền não chẳng có cùng tận, sự tán thán này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn”: Bồ Tát dạy chúng ta nhất tâm xưng niệm, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, chẳng hoài nghi mà tu học pháp môn này. “Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt chán”: chẳng có chán nản, mệt mỏi. Nếu dụng công đắc lực đúng pháp, xác thực là chẳng mệt, chẳng chán. Có đồng tu niệm Phật đắc lực, một câu Phật hiệu trong lúc ngủ vẫn niệm, mệt mỏi cũng vẫn niệm, niệm đến thân tâm tự tại, khoái lạc khôn sánh. Người chân chánh niệm Phật, càng niệm tinh thần càng phấn chấn, thân thể càng khỏe mạnh.
Thân thể chúng ta do vì có vọng tưởng, chấp trước, phiền não nên thân thể phát sanh biến hóa, biến thành chẳng bình thường, có bệnh tật. Hiện tại, địa cầu bị môi trường ô nhiễm, mất cân bằng sanh thái, địa cầu đổ bệnh cũng chẳng bình ổn. Xú khí tằng (tầng ozone) bị lủng, trời cũng bất bình thường. Thân thể có bệnh mà thể chất biến đổi sẽ tự nhiên khôi phục bình thường. Thế nào là tự nhiên? Trong tâm chẳng có sự là tự nhiên. Tâm vốn là vô sự. Lục Tổ đại sư nói: “Bổn lai vô nhất vật” (vốn không có một vật). Vốn không có một vật là tự nhiên. Nếu như tâm quý vị thanh tịnh, chẳng có vật gì, thân quý vị sẽ tự nhiên khôi phục, tế bào nơi thân thể đổi mới tổ chức, trở thành ổn định vô cùng, thân thể bèn khang kiện, cũng chẳng đổ bệnh, sống lâu.
Người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy vô lượng thọ, ai nấy trường sanh bất lão, nguyên nhân là do họ vĩnh viễn giữ gìn tự nhiên. Muốn biến đổi thể chất chỉ có tu tâm thanh tịnh. Thế gian bàn chuyện thuốc men, tẩm bổ đều chẳng đáng tin. Người tánh tình ôn hòa thiện lương chẳng dễ sanh bệnh; người nóng nảy, hung hăng, tánh tình bất hảo thường hay đau bệnh. Biết được chân tướng sự thật, liền hiểu nên làm như thế nào. Thân ngữ ý nghiệp không mệt chán là cương lãnh tu học, cũng là công phu chân chánh, phải nỗ lực học tập.

1.3. Nguyện thứ ba: Rộng tu cúng dường[12]
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn quảng tu cúng dường giả: Sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế nhất thiết Phật sát, cực vi trần trung, nhất nhất các hữu nhất thiết thế giới cực vi trần số Phật, nhất nhất Phật sở, chủng chủng Bồ Tát hải hội vi nhiễu, ngã dĩ Phổ Hiền hạnh nguyện lực cố, khởi thâm tín giải, hiện tiền tri kiến, tất dĩ thượng diệu chư cúng dường cụ, nhi vi cúng dường.
Sở vị: hoa vân, man vân, thiên âm nhạc vân, thiên tán cái vân, thiên y phục vân, thiên chủng chủng hương, đồ hương, thiêu hương, mạt hương. Như thị đẳng vân, nhất nhất lượng như Tu Di Sơn vương. Nhiên chủng chủng đăng: tô đăng, du đăng, chư hương du đăng, nhất nhất đăng chú như Tu Di sơn, nhất nhất đăng du như đại hải thủy. Dĩ như thị đẳng chư cúng dường cụ, thường vi cúng dường.
Thiện nam tử! Chư cúng dường trung, pháp cúng dường tối. Sở vị: Như thuyết tu hành cúng dường, lợi ích chúng sanh cúng dường, nhiếp thọ chúng sanh cúng dường, đại chúng sanh khổ cúng dường, cần tu thiện căn cúng dường, bất xả Bồ Tát nghiệp cúng dường, bất ly Bồ Đề tâm cúng dường.
Thiện nam tử! Như tiền cúng dường vô lượng công đức, tỷ pháp cúng dường nhất niệm công đức, bách phận bất cập nhất, thiên phận bất cập nhất, bách thiên câu-chi na-do-tha phần, ca-la phần, toán phần, số phần, dụ phần, ưu-ba-ni-sa-đà phần diệc bất cập nhất. Hà dĩ cố?
Dĩ chư Như Lai tôn trọng pháp cố, dĩ như thuyết hành xuất sanh chư Phật cố. Nhược chư Bồ Tát hành pháp cúng dường, tắc đắc thành tựu cúng dường Như Lai. Như thị tu hành, thị chân cúng dường cố. Thử quảng đại tối thắng cúng dường, hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã cúng nãi tận, nhi hư không giới, nãi chí phiền não bất khả tận cố, ngã thử cúng dường diệc vô hữu tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Lại này thiện nam tử! Nói rộng tu cúng dường là: Tất cả hết thảy các cõi Phật trong mười phương ba đời tận cùng pháp giới, hư không giới, trong mỗi một cực vi trần đều có chư Phật nhiều như số cực vi trần trong hết thảy thế giới, nơi mỗi đức Phật có các hải hội Bồ Tát vây quanh. Tôi do sức hạnh nguyện Phổ Hiền khởi tín giải sâu, tri kiến hiện tiền, thảy đều dùng vật cúng dường thượng diệu để cúng dường.
Như là: mây hoa, mây tràng hoa, mây âm nhạc trời, mây tàn lọng trời, mây y phục trời, các thứ hương trời: hương xoa[13], hương đốt, hương bột[14]. Các mây như thế mỗi một mây lượng như núi chúa Tu Di. Thắp các thứ đèn: đèn thắp bằng chất tô[15], đèn dầu, các loại đèn dầu thơm. Mỗi một tim đèn như núi Tu Di, dầu trong mỗi đèn như nước biển cả. Dùng các vật cúng dường như thế để thường cúng dường.
Này thiện nam tử! Trong các pháp cúng dường, pháp cúng dường quý nhất. Ấy là: cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời dạy, cúng dường bằng cách làm lợi chúng sanh, cúng dường bằng cách nhiếp thọ chúng sanh, cúng dường bằng cách chịu khổ thế cho chúng sanh, cúng dường bằng cách siêng tu thiện căn, cúng dường bằng cách chẳng xả nghiệp Bồ Tát, cúng dường bằng cách chẳng lìa Bồ Đề tâm.
Này thiện nam tử! Vô lượng công đức cúng dường như trên so với công đức của pháp cúng dường trong một niệm chẳng bằng một phần trăm, chẳng bằng một phần ngàn, cũng chẳng bằng được một phần của trăm ngàn câu-chi na-do-tha, ca-la phần, toán phần, số phần, dụ phần, ưu-ba-ni-sa-đà phần[16]. Vì sao thế?
Vì các Như Lai tôn trọng pháp, vì tu hành đúng như lời dạy sẽ sanh ra chư Phật. Nếu các Bồ Tát hành pháp cúng dường thì được thành tựu cúng dường Như Lai. Tu hành như thế là chân cúng dường vậy. Sự cúng dường rộng lớn tối thắng này, hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự cúng dường của tôi mới hết. Nhưng vì hư không giới cho đến phiền não chẳng thể tận nên sự cúng dường này của tôi cũng chẳng có tận. Niệm niệm nối tiếp, chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt chán)

Cúng dường là tu phước. Con người chẳng thể không có phước, không có phước thường gặp khổ sở. Có phước báo, cuộc sống của quý vị sẽ tự tại vô cùng, hạnh phúc sung sướng vô cùng. Phước báo do đâu có? Phước báo là do tu bố thí cúng dường mà được. Trong Lục Độ của Đại Thừa Bồ Tát, thứ nhất là Bố Thí. Sự bố thí của Phổ Hiền Bồ Tát gọi là Cúng Dường. Tâm bố thí của Phổ Hiền Bồ Tát chân thành, thanh tịnh, rộng lớn, bình đẳng, dùng tâm như thế để bố thí thì gọi là Cúng Dường; không có tâm như thế thì gọi là Bố Thí. Bố thí phước báo nhỏ, cúng dường phước báo lớn; bởi lẽ tâm lượng bố thí nhỏ, tâm lượng cúng dường rất lớn. Phước báo tỷ lệ thuận với tâm lượng, tâm lượng lớn thì phước báo lớn.
Có rất nhiều thứ phước báo, kinh Phật quy nạp thành ba loại lớn: giàu có, thông minh trí huệ, mạnh khỏe sống lâu. Sống lâu mạnh khỏe chẳng cần đến người khác trông nom, săn sóc, thật sự là phước báo. Phật dạy chúng ta: ba thứ phước báo là quả báo, chẳng tu nhân làm sao quý vị có được quả báo?
a) “Tài bố thí” (bố thí bằng tài vật) được giàu có. Người đại phú quý trong thế gian vận may, mạng tốt, làm gì cũng sanh lợi; quý vị làm gì cũng lỗ lã, cụt vốn. Nói thật ra, chẳng phải do cơ hội, chẳng phải là vận may, cũng chẳng phải do thông minh trí huệ, mà do trong đời quá khứ họ tu nhân, nên trong đời này đương nhiên họ được phước báo đó. Dùng tài vật của chính mình bố thí cúng dường sẽ hưởng thọ quả báo giàu có vĩnh viễn chẳng hết. Hiện tại, nhờ cậy con cái nuôi mình lúc tuổi già là chuyện khó mong, người thế gian cứ nghĩ bên mình phải có chút tiền của mới chắc ăn, vạn nhất gặp phải tai nạn ngoài ý muốn như hỏa tai, nước lụt, bị giặc cướp đoạt mất, tiền của mất hết, quý vị làm cách nào đây? Vẫn chẳng chắc ăn chi hết. Gởi trong ngân hàng cũng chẳng chắc ăn, ngân hàng cũng có thể bị đóng cửa. Chắc ăn nhất là tu Bố Thí, dùng của cải bố thí cúng dường hết thảy đại chúng, tích trữ như vậy mới chắc ăn; lúc mình cần đến sẽ có người cho mình, cúng dường mình. Rất nhiều người chẳng hiểu rõ đạo lý này, cho là không chắc ăn, chẳng dám làm. Chẳng dám làm là không tin Phật, bởi lẽ bố thí được giàu có là do chính đức Phật nói. Có tiền bèn bố thí, bố thí sạch sành sanh, trong tâm thật là khoái lạc, đến lúc đó “trong nhà Phật, có cầu ắt ứng”, nghĩ đến cái gì, cái đó bèn đến.
Tôi học Phật hai mươi sáu năm, Chương Gia đại sư dạy tôi: “Trong nhà Phật có cầu ắt ứng là thật đấy, nhưng phải biết tu, phải biết tu nhân! Anh chẳng cần phải sợ hãi, phải tin tưởng Phật, Phật chẳng lừa dối chúng ta”. Tôi nghe lời thầy, sanh hoạt vô cùng tiết kiệm, bớt tiền ra bố thí, dùng để phóng sanh, giúp đỡ tiền thuốc men cho người nghèo, tiền dư nhiều mới mua sách. Cho đến tận bây giờ vẫn bố thí như vậy. Năm trước, ở Đức Châu (Texas), Mỹ quốc, các đồng tu tại đó muốn lập đạo tràng, là chuyện tốt, nhưng tôi không có tiền. Vừa mới nghĩ vậy, chưa đầy ba tháng sau, có rất nhiều người gởi tiền cho, đương nhiên có tiền lập Phật đường. Phòng ốc đó là do Phật, Bồ Tát kiến tạo. Nếu dùng tiền tài để hoằng pháp lợi sanh là thích đáng nhất. Tôi học Phật, nghe theo lời thầy, y giáo phụng hành bốn mươi năm, chính tôi được cảm ứng, đúng là “hữu nguyện tất thành”. Phước nhất định phải gieo nơi ruộng phước; hoằng pháp lợi sanh là phước điền. Tiền của tôi đều dùng để in kinh,
b) “Pháp bố thí”: Nếu có cơ duyên đem phương pháp lý luận tu học của chính mình, những điều hay mình đạt được trình bày với mọi người, khiến mọi người cũng chiếu theo phương pháp lý luận tu học ấy. Ấy gọi là Pháp Bố Thí. Mấy năm gần đây, tôi đến các nơi trên thế giới giảng kinh, phổ biến giới thiệu Tịnh Độ Tông, đó là Pháp Bố Thí.
c) “Vô Úy Bố Thí”: Trong tâm chúng sanh có ngờ vực, có sợ hãi, có khó khăn, nếu chúng ta có năng lực bèn giúp họ giải quyết, khiến tâm họ được bình an, thân được an ổn; sự giúp đỡ như thế gọi là Vô Úy Bố Thí.
Tu Tài Bố Thí được giàu có, tu Pháp Bố Thí được thông minh trí huệ, tu Vô Úy Bố Thí được sống lâu mạnh khỏe, ba thứ quả báo ấy chúng ta đều cần; vì vậy, phải nỗ lực tu học ba thứ Bố Thí thì mới có quả báo thù thắng. Nếu chẳng tu nhân, mỗi ngày cầu Phật, Bồ Tát, cúng dường hương, hoa, nước, quả, nịnh nọt Phật, Bồ Tát hòng các Ngài bảo hựu ban cho quý vị phước báo, chẳng hề có chuyện như vậy đâu! Phật, Bồ Tát dạy chúng ta tu nhân, tu nhân mới được quả!
“Trong các cúng dường, pháp cúng dường quý nhất”: mọi người chỉ biết Tài Bố Thí được giàu có, Pháp Bố Thí được thông minh trí huệ, chẳng biết sự viên dung trong quả báo để chuyên tâm tu Pháp Bố Thí. Có trí huệ, quý vị chẳng bần cùng, có trí huệ nhất định quý vị có thể điều thân điều tâm, nên bèn được khỏe mạnh trường thọ. Do đây biết rằng: Cái quý báu nhất trong thế gian chẳng phải là giàu có mà là trí huệ. Một lời của Phổ Hiền Bồ Tát nói toạc ra: Trong các cúng dường, pháp cúng dường thù thắng nhất.
Phạm vi của Pháp Cúng Dường rộng lớn vô biên, Bồ Tát nêu tượng trưng bảy loại:
1) Cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời dạy:
Những đạo lý đức Phật giảng trong kinh điển, chúng ta phải hiểu rõ, phải thể hội. Phật, Bồ Tát dạy chúng ta nên làm những việc gì, chúng ta phải làm theo đó, những việc nào chẳng nên làm, chúng ta tuyệt đối chẳng làm. Chiếu theo lời Phật, Bồ Tát giáo huấn, sửa đổi cho đúng cách nghĩ, cách nhìn, cách nói, cách làm lầm lạc của chúng ta. Đó gọi là “cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời dạy”. Cúng dường bằng hương, hoa, nước, trái cây chỉ nhằm biểu hiện lòng cung kính của chúng ta mà thôi, Phật, Bồ Tát chẳng cần đến những thứ ấy đâu!
Trong mỗi niệm, Phật, Bồ Tát hy vọng chúng ta mau thành Phật, trở thành giống như các ngài. Chúng ta học Phật với mục đích thành Phật, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là một phương cách trọng yếu để thành Phật. Kinh điển để y cứ trong Tịnh Độ Tông là Tịnh Độ Ngũ Kinh và một Luận, những điều nói trong đó chúng ta đều có thể hiểu được, đều có thể làm theo được, đó là “cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời dạy”. Năm ngoái, ở Tân Gia Ba có một bà cụ nghe nói pháp môn Niệm Phật, hoan hỷ vô cùng, ở nhà suốt một ngày từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật, niệm bảy tháng biết trước lúc mất, chẳng bệnh, ngồi vãng sanh. Bởi thế, hiện tại ở Tân Gia Ba và Mã Lai Á người niệm Phật rất đông. Đài Loan cũng có người niệm Phật nửa năm, đứng mà qua đời. “Như thuyết tu hành” là y giáo phụng hành, là cúng dường chân chánh vậy.
2) Cúng dường bằng cách lợi ích chúng sanh:
Bồ Tát niệm niệm độ chúng sanh, niệm niệm đều muốn giúp đỡ chúng sanh khiến cho chúng sanh đạt lợi ích tốt nhất. Lợi ích tốt nhất là giúp họ niệm Phật, giúp người khác biết trước lúc mất, giúp người khác chẳng đổ bệnh, đứng hay ngồi vãng sanh, đó mới là lợi ích lớn nhất; còn hết thảy những hưởng thọ vật chất hay tinh thần khác, chết đi đều phải luân hồi trong lục đạo. Quý vị ban cho họ những lợi ích khác, bất quá họ hưởng thụ mấy mươi năm rồi thôi, sau mấy mươi năm, lưu chuyển dài lâu. Giúp họ thoát ly biển khổ, vượt thoát luân hồi, thành Phật, làm Tổ, đó là lợi ích tối thù thắng.
Lợi ích chúng sanh chính là phổ độ chúng sanh. In kinh điển, đắp tượng, hoặc ấn loát hình Phật, giảng kinh, thuyết pháp (bất luận quy mô lớn nhỏ), lưu thông băng ghi âm hoặc băng ghi hình giảng pháp, dùng truyền hình truyền bá hoằng dương Phật pháp đều là cúng dường bằng cách lợi ích chúng sanh. Tu loại cúng dường này là chân thật cúng dường chư Phật. Chúng ta đem Phật pháp giới thiệu cho chúng sanh, tạo cơ hội cho chúng sanh học Phật, giúp họ mau được thành Phật, là phù hợp bổn nguyện của hết thảy chư Phật trong mười phương, bởi thế chư Phật dùng bổn nguyện lực gia trì quý vị, quý vị sẽ được ba thứ tự tại: Tài tự tại, Huệ tự tại, mạnh khỏe trường thọ tự tại.
3) Cúng dường bằng cách nhiếp thọ chúng sanh:
Lợi ích chúng sanh là phổ biến, đề cao, giới thiệu rộng khắp, còn nhiếp thọ chúng sanh không giống như thế. Chẳng những chỉ giới thiệu Phật pháp cho họ mà còn chỉ đạo họ tu hành, lãnh đạo họ, khiến họ cùng tu hành. Nhiếp thọ là quan hệ vô cùng thân thiết, thật sự thiết lập quan hệ thầy trò hoặc đạo hữu cùng tu học với nhau. Chẳng những dùng ngôn ngữ giúp đỡ họ, ta còn dùng hành động để giúp đỡ, làm gương tu học Phật pháp cho họ thấy. Đó gọi là cúng dường bằng cách nhiếp thọ chúng sanh.
4) Cúng dường bằng cách chịu khổ thay cho chúng sanh:
Bồ Tát có lời nguyện chịu tội chịu khổ thế cho chúng sanh. Chịu khổ thay cho quý vị, về mặt Sự, mỗi người tạo nghiệp, mỗi người phải hứng lấy quả báo; chư Phật, Bồ Tát không cách gì chịu khổ thay cho quý vị. Thế nhưng, đúng là Bồ Tát có thể chịu thay cho quý vị một phần. Chẳng hạn như, sáng sớm đi mua thức ăn, dự tính mua năm mươi đồng, trong tâm nghĩ: “Người khổ sở rất nhiều, ta mua ít đi một chút, mua cái gì rẻ một chút, tốn hai mươi lăm đồng thôi, bớt ra hai mươi lăm đồng để giúp người khác”. Đó là chịu khổ thay cho người khác. Quý vị vốn có thể ăn hết năm mươi đồng, ăn những thứ rất ngon, bây giờ bớt mồm bớt miệng một nửa, quý vị ăn thứ dở một chút, đó là chịu khổ thế cho chúng sanh. Vốn có thể ở nhà xa hoa lộng lẫy, đổi sang ở cái nhà nhỏ che nắng đụt mưa là được rồi, dành bớt tiền để giúp chúng sanh khốn khó; cho thấy đúng là có thể chịu khổ thế một phần.
Mỗi ngày bớt xài một đồng bèn có thể dùng một đồng tu phước; bớt xài mười đồng bèn có thể dùng mười đồng để bố thí cúng dường. Tự mình tiết kiệm để giúp đỡ người khác; đó là chịu khổ thay cho chúng sanh; còn như chúng sanh tạo nghiệp thiện hay ác, ta chẳng thể chịu thay cho họ được. Chính mình tiết kiệm một chút, có chút ít dư ra để hỗ trợ hoằng dương Phật pháp, giúp đỡ chúng sanh khốn khó; đó là Bồ Tát cúng dường bằng cách phát nguyện chịu khổ thế cho chúng sanh.
5) Cúng dường bằng cách siêng tu thiện căn:
Trong một đời này, tu hành có thể thành công hay không là do mấu chốt này. Thiện căn: tất cả hết thảy thiện pháp do từ cái gốc này sanh ra [nên gọi là thiện căn]. Căn có nghĩa là sanh ra, [chữ Căn] dùng với ý nghĩa tỷ dụ. Giống như thực vật có rễ thì mới có thể tăng trưởng, nẩy mầm, nở hoa, kết trái. Bồi dưỡng thiện căn là một đại sự tu học trọng yếu phi thường. Thiện căn có thiện căn thế gian và thiện căn xuất thế gian.
Thiện căn xuất thế gian lấy thiện căn thế gian làm cơ sở. Thiện căn thế gian là không tham, không sân, không si, đó gọi là ba thiện căn. Đức Phật dạy chúng ta siêng tu ba thiện căn, đó là cúng dường. Đối với hết thảy pháp thế gian, danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, chẳng khởi tâm tham. Đối với hết thảy những hoàn cảnh chẳng như ý, ác nhân, ác sự, chẳng khởi tâm sân khuể. Đối với hết thảy sự lý, thông đạt, hiểu rõ, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo, chẳng nghĩ lầm, chẳng thấy lầm, chẳng ngu si. Đó gọi là ba căn bản của thiện pháp thế gian. Người học Phật phải tích cực nỗ lực tu học, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si, tin tưởng nhân quả báo ứng sâu xa.
Vì sao mọi người nghe Phật giảng thiện nhân thiện quả lại chẳng dám làm? Là vì chưa hiểu rõ sự và lý của nhân quả, chưa đủ tín tâm. Chứ nếu hiểu rõ sẽ tận sức dốc lòng thực hành. Ví như Tài Bố Thí, mọi tài vật của mình đều đem bố thí hết sạch, ngày mai lấy gì ăn đây? Điều này rất hiện thực, ngày mai ăn ở đâu đây? Vừa nghĩ đến ngày mai, tiền bố thí bèn sớt lại một chút, ngày mai còn phải ăn mà! Nghĩ đến ngày hôm sau nữa, lại còn có ngày sau nữa, bèn chẳng dám bố thí. Đấy là chưa rõ sự lý. Tôi thường khuyên đồng tu bồi dưỡng ba thiện căn thì trước hết phải đọc sách Liễu Phàm Tứ Huấn ba trăm bận, sẽ có tín tâm, sẽ tận tụy đối với sự lý nhân quả báo ứng. Bố thí là tu nhân, phước báo tự nhiên hiện tiền, nhân duyên quả báo mảy may chẳng sai. Quý vị càng lo sợ càng chẳng dám bố thí, thì phước báo càng có hạn lượng.
Thiện căn xuất thế gian là điều Bồ Tát tu, chỉ có một điều thôi: Tinh Tấn. Tinh Tấn là thiện căn của Bồ Tát. Tu hành dựa theo phương pháp lý luận chẳng sai lầm thì càng tinh tấn càng sung sướng, càng giống như Phổ Hiền Bồ Tát, chẳng có mệt chán. Quý vị nghĩ xem: đời người nhiều tự tại, lắm khoái lạc là do tinh tấn mà có. Chẳng tinh tấn bèn biếng nhác, bê trễ, công phu tu hành không đắc lực, phiền não lắm, khổ nạn cũng nhiều. Bởi thế, đâm ra hoài nghi Phật pháp, tín tâm dao động, thoái chuyển đọa lạc.
Tinh Tấn: Tấn là cầu tiến bộ, Tinh là thuần chẳng tạp. Tiến bộ như thế mới hữu dụng. Trong chuyện này, có bạn đồng tu rất nỗ lực, dụng công phi thường, nhưng chẳng phải là tinh tấn! Họ học rất nhiều, nên là tạp tấn. Phí rất nhiều thời gian, tinh thần, hiệu quả chẳng lý tưởng mấy. Phật pháp đáng quý nhất là tinh tấn!
6) Cúng dường bằng cách chẳng bỏ Bồ Tát nghiệp:
Nghiệp là sự nghiệp, sự nghiệp của Bồ Tát là giáo hóa chúng sanh. Bồ Tát trong thế gian làm giáo viên, chỉ có một mục tiêu: giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Bồ Tát thị hiện trong thế gian có thể dùng các thứ thân phận bất đồng, thân phận tại gia, xuất gia, và các thân phận già, trẻ, nam, nữ, các hạnh, các nghiệp. Nếu Bồ Tát thị hiện trong giới thương nhân bèn là lãnh tụ của thương nhân, dạy quý vị kiếm lời như thế nào, dùng tiền ra sao. Các Ngài có trí huệ: kiếm tiền lời như thế nào rất khổ, kiếm lời như thế nào rất sung sướng, tiêu tiền như thế nào mà tiêu rất đau khổ, tạo rất nhiều tội nghiệp; tiêu tiền như thế nào mà tu được rất nhiều công đức, tương lai được đại phước báo, vị thương nhân Bồ Tát hiểu rõ. Già, trẻ, trai, gái, các hạnh, các nghiệp đều có Bồ Tát, Bồ Tát chỉ vẽ khuôn phép cho quý vị.
Trong nhà Phật, sự nghiệp của Bồ Tát được tượng trưng bằng việc “hoằng pháp lợi sanh”, chẳng thể buông bỏ việc này. Gia nghiệp của Phật là hoằng dương Phật pháp, tận tâm tận lực làm tốt việc ấy, đó là sự nghiệp của Bồ Tát. Có nhiều người nói: “Tôi chẳng có tiền, chẳng thể cất đạo tràng. Đối với đạo tràng cũng chẳng giúp gì được. Tôi cũng chẳng có trí huệ, chẳng thể giảng kinh, thuyết pháp, làm sao hoằng pháp lợi sanh cho được?” Quý vị đem lịch trình giảng kinh ở chỗ này báo cho người khác biết, khuyên bạn bè, người nhà, quyến thuộc, hàng xóm đi nghe kinh, đó là sự nghiệp của Bồ Tát quý vị thừa sức làm được. Họ đến rất tốt, không đến cũng chẳng sao, sự nghiệp Bồ Tát ta đã làm được rồi. Có thể thấy là sự nghiệp Bồ Tát ai cũng làm được, chẳng khó!
Ta thấy người khác bèn chắp tay niệm A Di Đà Phật, đó là sự nghiệp Bồ Tát, chẳng cần biết họ thích nghe hay không, họ đều nghe tiếng niệm lọt qua. “Nhất lịch nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng” (một phen lọt qua, vĩnh viễn trở thành giống đạo); chủng tử A Di Đà Phật gieo chắc nơi A Lại Da Thức của kẻ đó, đấy là sự nghiệp Bồ Tát. Sự nghiệp cốt tại tận tâm tận lực, chẳng khó tu đâu!
7) Cúng dường bằng cách chẳng lìa Bồ Đề tâm
Bồ Đề là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Trung Quốc nghĩa là Giác Ngộ. Trong sanh hoạt thường nhật, đối người, đối sự, đối vật, giữ gìn tâm tỉnh giác cao độ, chẳng mê hoặc, đó là cúng dường bằng cách chẳng lìa Bồ Đề tâm. Một niệm chẳng giác bèn mê, niệm niệm bất giác bèn tạo tội nghiệp, bởi thế phải thời thời khắc khắc giữ vững tâm tỉnh giác. Giữ vững bằng cách nào? Một ngày từ sáng đến tối, một câu A Di Đà Phật ghim chắc trong tâm, chẳng hề bỏ mất, quý vị bèn giữ vững được tâm tỉnh giác cao độ. A Di Đà Phật vừa mất, vọng tưởng tạp niệm bèn khởi lên. Vọng tưởng tạp niệm là mê, một câu Phật hiệu là giác.
Trong hết thảy pháp môn, vì sao chư Phật riêng xưng tán Niệm Phật? Pháp môn Niệm Phật này dễ dàng, đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận ở nơi đâu, hoàn cảnh nào, một câu A Di Đà Phật trong tâm quý vị đều chẳng để dứt, tu học thuận tiện. Xin thưa cùng quý vị đó là phương cách vô cùng cụ thể để cúng dường bằng cách chẳng lìa Bồ Đề tâm. Do đây biết rằng: Trên cúng mười phương hết thảy chư Phật, dưới cúng hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới, tất cả đều cúng dường hết. Một câu Phật hiệu cúng dường trọn khắp. Công đức lợi ích của Phật hiệu rất ít người biết. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện này từ đầu đến cuối đều là xưng tán danh hiệu công đức chẳng thể nghĩ bàn, từng câu từng chữ trong kinh văn đều kết quy công đức của danh hiệu.
Cảnh giới tu học cũng giống như phần trên. Hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não chẳng thể cùng tận, sự rộng tu cúng dường của chúng ta cũng chẳng có cùng tận; cũng là nhất tâm nhất ý, niệm niệm tiếp nối chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng có mệt chán. Phải tích cực nỗ lực, phải tinh tấn tu học.
Nguyện “rộng tu cúng dường” này trọng yếu vô cùng. Hạnh môn Bồ Tát lấy Lục Độ làm cương lãnh, pháp thứ nhất trong Lục Độ là Bố Thí. Vì sao đặt Bố Thí làm pháp đầu tiên trong Lục Độ? Thật ra, chư Phật Như Lai không có pháp nào có thể nói được, hết thảy pháp nói ra không gì chẳng phải là “đối bệnh cho thuốc” đó thôi! Chúng sanh có bệnh gì bèn trao thuốc chữa trị bệnh đó, bệnh lành, thuốc cũng chẳng cần đến nữa! Bệnh chúng sanh rất nhiều, gốc của tất cả hết thảy bệnh đều là keo tham. Hết thảy chúng sanh tu hành chẳng thể khai ngộ chứng quả, tạo lục đạo luân hồi, đọa tam ác đạo đều vì bị bệnh tham làm hại. Vì thế, bố thí là một liều thuốc hay để trị bệnh keo tham. Không tham - sân - si thì hết thảy thiện pháp sanh; có tham - sân - si thì hết thảy thiện pháp chẳng sanh, hết thảy ác pháp bèn sanh.
Trong các cúng dường, pháp cúng dường thù thắng nhất. Trong các pháp cúng dường,“tu hành đúng theo lời dạy” là trọng yếu nhất, tức là y giáo phụng hành. Mục đích học Phật bất đồng, sở cầu bất đồng, chọn lựa pháp môn cũng bất đồng. Đạo tràng này của chúng ta chọn lựa Tịnh Độ tông, mục đích là hy vọng tương lai có thể vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh điển để chúng ta y cứ là năm kinh một luận. Nhất định phải chiếu theo kinh điển mà nỗ lực thực hiện, đó gọi là Tu Hành. Tu là “tu chánh” (sửa đổi cho đúng), Hành là hành vi. Tu Hành là sửa đổi hành vi của chúng ta cho đúng. Tiêu chuẩn của Chánh là gì? Tất cả những gì Phật giáo huấn trong kinh đều là tiêu chuẩn đúng đắn cả.
Cách nghĩ, cách nhìn, cách làm của Phật quyết định là chánh xác; hãy buông bỏ tư tưởng, hiểu biết của chúng ta, chiếu theo cách nghĩ, cách nhìn của Phật để sửa đổi quan điểm, hành vi của chính mình thì gọi là Tu Hành. Tu hành ở ngay nơi khởi tâm động niệm, ngay nơi đãi người tiếp vật, chớ chẳng phải là mỗi ngày niệm kinh, gõ mõ, xướng tán, dập đầu, chắp tay. Làm ra vẻ tu hành, nhưng trong tâm khởi vọng tưởng thì chẳng phải là tu hành thật sự.
Cúng dường bằng cách như thuyết tu hành có thể nói là sự bố thí cúng dường mà hết thảy Bồ Tát đã tu đến mức rốt ráo viên mãn. Chẳng hạn như chúng ta thọ trì kinh Vô Lượng Thọ, tất cả hết thảy giáo huấn của Phật trong kinh, mỗi một điều, mỗi một câu chúng ta đều thực hiện được thì Sáu Ba La Mật, Mười Ba La Mật, mười đại nguyện vương đều hoàn toàn viên mãn.

1.4. Nguyện thứ tư: Sám hối nghiệp chướng
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn sám trừ nghiệp chướng giả: Bồ Tát tự niệm, ngã ư quá khứ, vô thỉ kiếp trung, do tham sân si, phát thân khẩu ý, tác chư ác nghiệp vô lượng vô biên. Nhược thử ác nghiệp hữu thể tướng giả, tận hư không giới, bất năng dung thọ. Ngã kim tất dĩ thanh tịnh tam nghiệp, biến ư pháp giới cực vi trần sát, nhất thiết chư Phật, Bồ Tát chúng tiền, thành tâm sám hối, hậu bất phục tạo, hằng trụ tịnh giới, nhất thiết công đức. Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã sám nãi tận, nhi hư không giới nãi chí chúng sanh phiền não bất khả tận cố, ngã thử sám hối vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp, vô hữu bì yểm.
(Lại này thiện nam tử! Nói sám trừ nghiệp chướng là: Bồ Tát tự nghĩ, tôi trong quá khứ, trong vô thỉ kiếp, do tham - sân - si, tạo vô lượng vô biên các nghiệp ác nơi thân, khẩu, ý. Nếu những ác nghiệp đó có thể tướng, cùng tận hư không giới chẳng thể chứa đựng được. Tôi nay đều dùng ba nghiệp thanh tịnh đối trước hết thảy chư Phật, Bồ Tát chúng trong cực vi trần số cõi trong khắp pháp giới thành tâm sám hối, về sau chẳng gây tạo nữa, luôn trụ tịnh giới, hết thảy công đức. Như thế hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, tôi sám hối mới tận. Nhưng vì hư không giới cho đến phiền não của chúng sanh chẳng thể tận nên sự sám hối này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng có mệt chán)

Nghiệp là tạo tác. Tạo tác là Nghiệp. Phạm vi của tạo tác rộng lớn phi thường. Nhất cử nhất động nơi thân: tạo tác nơi thân là thân nghiệp, nói năng là khẩu nghiệp, trong tâm khởi ý niệm vọng tưởng từ sáng đến tối chẳng ngớt, đó là ý nghiệp. Chúng ta tạo nghiệp dẫu nhiều, nhưng quy nạp lại, chẳng ngoài ba nghiệp thân - ngữ - ý. Hễ ba loại nghiệp lớn này động bèn là tạo tác. Trong tạo tác có thiện, có ác.
Nghĩ đến một việc tốt, việc lợi ích chúng sanh thì là hảo sự, là thiện nghiệp. Nghĩ đến một chuyện xấu, niệm niệm chỉ vì mình thì là ác nghiệp. Vì tự mình thì có gì không tốt? Vì sao đức Phật nói đó là ác nghiệp? Mục đích học Phật là vượt thoát tam giới, khởi tâm động niệm chỉ vì mình thì quý vị không cách gì vượt thoát tam giới, thành Phật, thành Bồ Tát được! Bởi lẽ quý vị tạo nghiệp gây chướng ngại chính mình. Kinh Kim Cang nói: “Nếu Bồ Tát có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì chẳng phải là Bồ Tát”. Niệm niệm có Ngã, chấp vào tướng Ta, đó là Ngã Chấp. Ngã Chấp chẳng phá thì đừng nói đến Bồ Tát, ngay cả quả A La Hán cũng chẳng đạt được. Tu học Phật pháp thành tựu quả báo thấp nhất là A La Hán. Phá Ngã Chấp bèn chứng A La Hán. Phá Pháp Chấp bèn chứng Pháp Thân đại sĩ, tức là minh tâm kiến tánh, chứng quả vị Bồ Tát. Đức Phật dạy chúng ta từ đầu đến cuối chỉ là phá Ngã Chấp và Pháp Chấp mà thôi. Khởi tâm động niệm đều nghĩ đến mình là ngày ngày tăng trưởng Ngã Chấp, chẳng thể vượt thoát tam giới; như vậy, niệm niệm vì mình chính là Ác. Khởi tâm động niệm nghĩ đến người khác, Ngã dần dần mất đi, Ngã Chấp bị phá. Niệm niệm nghĩ đến người khác là thiện, còn niệm niệm nghĩ đến mình là ác, đó là nghiệp chướng.
Có một loại chướng gọi là Phiền Não Chướng, khởi tâm động niệm đều là phiền não. Lại có một thứ chướng gọi là Sở Tri Chướng. Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng tánh chất bất đồng: Bản thân phiền não là chướng ngại; Sở Tri là trí huệ, bản thân nó chẳng phải là chướng ngại. Phật nói: Quá khứ, hiện tại, vị lai mười phương vô lượng vô biên thế giới, sự lớn việc nhỏ không gì quý vị chẳng biết, không gì quý vị chẳng làm được. Trí huệ của chúng ta vốn có năng lực lớn lao như thế, lớn như hư không pháp giới. Sở Tri chẳng phải là chướng, vấn đề là Sở Tri biến thành bất tri. Nói cách khác, nhất định có một thứ chướng ngại khiến cho đức năng của trí huệ bị ngăn trở, chướng ngại đó gọi là Sở Tri Chướng. Thứ chướng ngại ấy rốt cục là gì? Chướng ngại ấy chính là vô minh. Hiện tại chúng ta cái gì cũng không hiểu, cái gì cũng không rõ ràng. Vô minh là Sở Tri Chướng. Vô minh từ đâu mà có? Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Tri kiến lập tri, thị vô minh bổn”: nếu cho mình là thông minh, có trí huệ, người khác chẳng hiểu biết như mình, Phật gọi đó là vô minh; thật ra, cái gì quý vị cũng chẳng biết cả. Bởi lẽ những gì tưởng là hiểu đó chỉ là Thế Trí Biện Thông (biện tài thế gian), chẳng phải là trí huệ chân chánh. Thế Trí Biện Thông chẳng những không phải là trí huệ, trong quá trình tu học, nó còn là một trong tám nạn. Mắc nạn là chướng ngại, tổ sư đại đức thường khuyên nhắc kẻ sơ học chẳng cần phải xem kinh điển nhiều, cũng chẳng cần phải nghe nhiều người giảng kinh thuyết pháp. Xem kinh càng nhiều, vọng niệm càng nhiều, biến thành Sở Tri Chướng, chướng ngại bổn tánh, chướng ngại quý vị mở mang trí huệ. Phật dạy chúng ta hãy từ một môn mà thâm nhập, tu định. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, môn nào cũng đều tu Định. Niệm A Di Đà Phật là tu Định, tôi dạy quý vị niệm kinh Vô Lượng Thọ không cần phải niệm kinh gì khác cũng là tu Định.
Sám hối là gì? Sám là Sám-ma, là dịch âm tiếng Phạn. Hối là tiếng Trung Quốc. Chữ Sám Ma có ý nghĩa rất gần với chữ Hối Cải, bởi thế các vị pháp sư dịch kinh dùng chữ Sám Hối để dịch chữ Sám Ma, tức là Hoa - Phạn hợp dịch. Biết lỗi ắt sửa, sau này chẳng tái phạm, là chân sám hối. Trong nhà Phật có không ít nghi quỹ sám hối, do cổ đức từ bi thương xót kẻ sơ học, dạy chúng ta phương pháp, nguyên tắc sám hối. Chúng ta cần phải hiểu tinh thần sám hối: Sám hối chẳng phải là đối trước Phật, Bồ Tát kể lại một lượt những lỗi lầm mình đã phạm hôm qua, ngày nay, cầu Phật, Bồ Tát tha thứ, xóa hết tội lỗi. Làm như vậy là sai rồi, nghĩ đến tội nghiệp một lượt thì cũng giống như lại tạo tội ấy một lần nữa. Làm thế nào để sám trừ nghiệp chướng được? Bất luận trót tạo tội nghiệp gì cũng đừng nghĩ đến nữa, cứ chắc thật niệm A Di Đà Phật, nhất định về sau chẳng tái phạm nữa thì nghiệp chướng mới thật sự sám trừ được.
“Bồ Tát tự nghĩ, tôi trong quá khứ, trong vô thỉ kiếp, do tham - sân - si, tạo vô lượng vô biên các nghiệp ác nơi thân, khẩu, ý. Nếu những ác nghiệp đó có thể tướng, cùng tận hư không giới chẳng thể chứa đựng được”: Đây là Phổ Hiền Bồ Tát tự nói về chính mình, Ngài còn như thế huống gì chúng ta? Chúng ta đời đời kiếp kiếp chất chứa ác nghiệp vô lượng vô biên. May là chủng tử ác nghiệp chất chứa trong A Lại Da Thức chẳng có thể tích. Nếu chúng có thể tích nhỏ bằng một hạt vi trần thôi thì những hạt vi trần chất chứa từ vô thỉ kiếp đến nay, hư không chẳng chứa đựng được nổi. Chúng ta tạo nghiệp, một ngày hai mươi bốn tiếng, chẳng gián đoạn phút giây nào. Lúc ngủ cũng nằm mộng tạo nghiệp! Trong những nghiệp đã tạo, ác nghiệp nhiều, thiện nghiệp ít. Nói chung, khởi tâm động niệm nghĩ đến mình thì nhiều, nghĩ đến người khác thì ít. Quá nửa là tổn người lợi mình, được mấy lúc tổn mình lợi người? Phản tỉnh kỹ càng, lời Bồ Tát quả là thiên chân vạn xác (ngàn vạn phần đúng đắn), chúng ta ác nghiệp rất nhiều, từ hôm nay trở đi, phải phát nguyện tu sám hối.
“Tôi nay đều dùng ba nghiệp thanh tịnh đối trước hết thảy chư Phật, Bồ Tát trong cực vi trần số cõi trong khắp pháp giới thành tâm sám hối, về sau chẳng gây tạo nữa, luôn trụ tịnh giới, hết thảy công đức”: Đây là Bồ Tát dạy chúng ta phương pháp sám hối. Trước hết, quý vị phải có ba nghiệp thân - khẩu - ý thanh tịnh. Đó là cơ sở để sám hối nghiệp chướng. Nếu không, nghiệp chướng chỉ càng tăng thêm, chẳng thể giảm thiểu. Ba nghiệp lấy ý nghiệp làm chủ. Tâm thanh tịnh thì thân và ngữ tự nhiên thanh tịnh.
Lục Tổ Thiền Tông là Huệ Năng đại sư sau khi đắc pháp nơi ngài Hoàng Mai, do huynh đệ của Sư chẳng phục, rượt đuổi muốn đoạt lại y bát. Trong số ấy có sư Huệ Minh, trước khi xuất gia là tướng quân tứ phẩm. Huệ Năng bị ông ta đuổi kịp, ẩn vào lùm cỏ bên đường, bỏ y bát trên tảng đá cho Huệ Minh lấy đi. Huệ Minh giơ tay nắm lấy y bát, giở lên không được. Y bát rất nhẹ, Tứ Phẩm tướng quân cầm chẳng nổi, trong tâm liền cảnh giác, biết là do thần hộ pháp giữ gìn nên sức người chẳng thể lay động nổi, bèn năn nỉ Huệ Năng đại sư bước ra, nói:
- Tôi chẳng vì y bát, vì cầu pháp mà đến.
Thấy chiều gió xoay bánh lái thật lẹ! Trước hết Huệ Năng đại sư dạy ông ta tịnh lại, định cái tâm lại đã. Sau khi tâm Huệ Minh định rồi, bèn hỏi Huệ Minh:
- Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác (tâm thanh tịnh thì chẳng còn có ý niệm thiện hay ác), chính ngay trong lúc đó, cái gì là bổn lai diện mục của thượng tọa Huệ Minh?
Do lời nói đó, Huệ Minh bèn đại ngộ. Ba nghiệp của ông ta thanh tịnh, nhân đó bèn đại ngộ. Ý niệm thiện ác chẳng khởi, tâm thanh tịnh hiện tiền. Huệ Minh ba nghiệp thanh tịnh, bèn đối trước Huệ Năng sám hối nghiệp chướng, nghiệp chướng thật sự tiêu trừ, tâm thanh tịnh hiện tiền, bèn minh tâm kiến tánh. Chỉ cần chuyển được ý niệm bèn khai ngộ chứng quả.
Tại gia cư sĩ lúc làm việc phải nỗ lực làm việc, làm việc xong, buông hết thảy vọng niệm xuống, điều gì cũng chẳng cần nghĩ tới nữa, thiện hay ác đều chẳng suy lường, dùng cái tâm thanh tịnh đó niệm Phật, một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật, nghiệp chướng của quý vị sao không thể tiêu trừ cho được! Nghiệp chướng tiêu trừ, tâm thanh tịnh hiện tiền, tâm thanh tịnh khởi tác dụng là trí huệ, đối với công việc bình thường của quý vị, quý vị làm càng được viên mãn, càng tự tại. Lúc trước làm việc rất khổ, nay làm rất sung sướng. Trước kia thấy công việc rất phiền não, nay thấy công việc rất tự tại. Vì sao vậy? Là vì nghiệp chướng tiêu trừ rồi.
“Về sau chẳng gây tạo nữa”: Bình thường tiểu Bồ Tát tu hành, dạy quý vị sau này chẳng tái tạo nữa, còn Phổ Hiền Bồ Tát nói “về sau chẳng gây tạo nữa” có nghĩa là từ nay trở đi, phải gìn giữ cái tâm thanh tịnh, chẳng còn có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nữa! Thiện hay ác đều chẳng suy lường, vĩnh viễn gìn giữ cái tâm thanh tịnh, vĩnh viễn dùng cái tâm thanh tịnh ấy để chấp trì danh hiệu, đó là chân chánh “về sau chẳng gây tạo nữa” thì mới có thể sám trừ nghiệp chướng; từ vô thỉ kiếp đến nay, nghiệp chướng dù nhiều dù nặng đều có thể sám trừ.
“Hằng trụ tịnh giới, hết thảy công đức”: Hằng là thường hằng, vĩnh viễn. Trụ là tâm ta an trụ trong giới thanh tịnh. Giới là pháp, trì giới là giữ pháp. Hằng trụ tịnh giới là vĩnh viễn dùng cái tâm thanh tịnh giữ pháp, dùng tâm thanh tịnh tuân thủ giáo pháp của Phật, tuân thủ pháp luật, quy định của quốc gia và quan niệm đạo đức của phong tục tập quán dân gian. Giữ pháp nhưng chẳng mất tâm thanh tịnh thì gọi là “hằng trụ tịnh giới, thành tựu hết thảy công đức”.Một phần công phu được một phần thâu hoạch, mười phần công phu được mười phần thâu hoạch.
Bồ Tát phát nguyện tu khoa mục “sám hối nghiệp chướng” này giống như phần trên“niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn” dũng mãnh tinh tấn tu học, “thân ngữ ý nghiệp chẳng có mệt chán”: Ngài thành tựu vô lượng công đức thù thắng, tự nhiên chẳng có cảm giác mệt mỏi, chẳng thấy chán nản. Ngài đạt được công đức chân thật nên pháp hỷ sung mãn, đồng thời lại còn được hết thảy Như Lai oai thần gia trì. Chúng ta chiếu theo phương pháp này tu học cũng sẽ nhất định được chư Phật gia trì.

1.5. Nguyện thứ năm: Tùy hỷ công đức
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn tùy hỷ công đức giả: Sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết Phật sát, cực vi trần số chư Phật Như Lai, tùng sơ phát tâm, vị Nhất Thiết Trí, cần tu phước tụ, bất tích thân mạng, kinh bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số kiếp, nhất nhất kiếp trung, xả bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số đầu, mục, thủ, túc. Như thị nhất thiết nan hành khổ hạnh, viên mãn chủng chủng Ba La Mật môn, chứng nhập chủng chủng Bồ Tát trí địa, thành tựu chư Phật vô thượng Bồ Đề, cập bát Niết Bàn, phân bố xá-lợi.
Sở hữu thiện căn ngã giai tùy hỷ, cập bỉ thập phương nhất thiết thế giới, lục thú, tứ sanh, nhất thiết chủng loại, sở hữu công đức, nãi chí nhất trần, ngã giai tùy hỷ. Thập phương tam thế, nhất thiết Thanh Văn, cập Bích Chi Phật, hữu học, vô học, sở hữu công đức, ngã giai tùy hỷ. Nhất thiết Bồ Tát sở tu vô lượng nan hạnh khổ hạnh, chí cầu vô thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, quảng đại công đức, ngã giai tùy hỷ. Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã thử tùy hỷ vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục vô hữu gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Lại này thiện nam tử! Nói tùy hỷ công đức là: Tất cả chư Phật Như Lai nhiều như số cực vi trần trong hết thảy cõi Phật trong mười phương ba đời tận pháp giới, hư không giới, từ sơ phát tâm vì Nhất Thiết Trí[17] mà siêng tu khối phước[18], chẳng tiếc thân mạng, trải các kiếp nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, trong mỗi một kiếp, xả đầu, mắt, chân, tay nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Hết thảy khổ hạnh khó làm như thế, viên mãn đủ mọi môn Ba La Mật, chứng nhập mọi thứ trí địa[19] Bồ Tát, thành tựu vô thượng Bồ Đề của chư Phật, và nhập Niết Bàn[20], phân chia xá-lợi[21]. Tất cả thiện căn, tôi đều tùy hỷ. Và tất cả công đức của hết thảy chủng loại thuộc sáu đường bốn loài trong mười phương hết thảy thế giới, thậm chí [công đức nhỏ bằng] một hạt bụi, tôi đều tùy hỷ. Tất cả công đức của mười phương ba đời hết thảy Thanh Văn và Bích Chi Phật, hữu học, vô học[22], tôi đều tùy hỷ. Hết thảy Bồ Tát đã tu vô lượng khổ hạnh khó làm, chí cầu vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, công đức rộng lớn tôi đều tùy hỷ.
Như thế, hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, nhưng sự tùy hỷ này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt chán)

“Tùy hỷ chúng sanh” đối trị bệnh ganh ghét. Điều này được đặc biệt nêu ra đối với hàng Pháp Thân đại sĩ, cho thấy ghen ghét không phải là căn bệnh nhỏ, bệnh nhẹ. Thấy chỗ hay của người khác, trong tâm khó chịu, nghĩ cách chướng ngại phá hoại, đó là bệnh rất nặng. Chẳng riêng gì người thế gian mắc chứng bệnh nặng này, người học Phật cũng không tránh khỏi. Bồ Tát cũng chẳng tránh khỏi, thấy người khác có chỗ thù thắng, trong tâm khó chịu. Nếu Bồ Tát chẳng mắc bệnh này, thì mười nguyện Phổ Hiền sẽ chẳng có điều nguyện này.
Sau khi Lục Tổ Huệ Năng được truyền y bát, rất nhiều sư huynh, sư đệ muốn đoạt y bát là vì ghen ghét. Lúc Phật tại thế, Đề Bà Đạt Đa ganh ghét Phật, luôn tìm cách phá hoại chuyện hoằng pháp lợi sanh của Phật, nghĩ cách hại chết Phật. Phật giáo truyền đến Trung Quốc, tổ tổ tương truyền, chúng ta cũng thấy có rất nhiều chuyện ghen ghét chướng ngại. Nghĩ đến bản thân chúng ta, có ý niệm và hành vi ghen ghét hay chăng? Ghen ghét là phiền não bẩm sanh của chúng sanh, chẳng dễ đoạn trừ. Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta tùy hỷ công đức nhằm nhổ tận gốc ghen ghét từ vô thỉ kiếp đến nay. Thấy người khác có thiện hạnh, thiện sự, chúng ta tùy hỷ, họ được công đức rất lớn thì chúng ta cũng được công đức lớn giống hệt như vậy.
Cảnh giới tu nguyện này của Bồ Tát là tột cùng hư không, khắp pháp giới. Học tùy hỷ theo cách nào? Trong kinh có nêu một thí dụ: “Chư Phật Như Lai từ sơ phát tâm vì Nhất Thiết Trí mà siêng tu khối phước, chẳng tiếc thân mạng”. “Phát tâm” là phát vô thượng Bồ Đề tâm (phát tâm cầu Vô Thượng Bồ Đề), cũng tức là phát tâm cầu trí huệ viên mãn rốt ráo. Có trí huệ viên mãn rốt ráo thì mới có thể thấu hiểu triệt để chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Sau khi phát tâm, phải siêng tu phước huệ. Phật còn được gọi là Nhị Túc Tôn, chữ Nhị chỉ phước và huệ, Túc là trọn đủ, viên mãn. Thành Phật tức là phước đức và trí huệ viên mãn. Vì tu phước và tu huệ bèn chẳng tiếc thân mạng, làm được chuyện khó làm, tu được chuyện khó tu, dũng mãnh tinh tấn, chư Phật Như Lai thành tựu như thế đó. Sau khi thành Phật, rộng độ chúng sanh chẳng ngưng nghỉ, thị hiện trong sáu đường. Nên dùng thân nào để được độ, bèn hiện thân đó, nên dùng thân Phật để độ bèn hiện thân Phật để thuyết pháp.
Phật từ sơ phát tâm thẳng đến khi độ sanh, bao nhiêu công đức chúng ta đều phải tùy hỷ, phải học tập. Ngài làm như thế nào, ta cũng làm theo như thế ấy. Người ta phát tâm được thì ta cũng phát tâm được, người ta tu hành được thì ta cũng tu hành được. Chúng ta chẳng những không ghen ghét mà còn tận tâm tận lực giúp đỡ, thành toàn cho người ta. Mọi người tu trì thì chúng ta có thật sự bị chướng ngại gì chăng? Chẳng chướng ngại gì! Nếu lắng lòng quan sát, [sẽ thấy] chẳng chướng ngại người khác; thật ra, chỉ có mình chướng ngại chính mình mà thôi. Phật từng thí dụ: Ví như có kẻ ngậm nước phun lên trời, có phun được lên trời hay không? Chẳng những không phun được mà trái lại nước còn rớt trúng mặt mình. Phải chuyển đổi ý niệm, thành toàn sự tốt đẹp cho người, người ta có việc gì tốt mình phải giúp đỡ, phải thành tựu cho người ta. Người ta tốt, trong xã hội ai nấy đều tốt, ta cũng hưởng lây, ta cũng tốt luôn. Tinh thần chủ yếu của nguyện này là dạy chúng ta hiểu rõ đạo lý này, nỗ lực tu học, thành tựu công đức chân thật cho chính mình.
Nhìn lại xã hội trước mắt, tùy hỷ công đức phải có trí huệ, chẳng thể làm việc theo tình cảm; nếu không, sẽ thường mắc hại. Nêu một ví dụ thật: Ở Đạt Lạp Tư (Dallas) có một đồng tu đang lái xe thấy một đứa bé đi theo người lớn bị té, do hảo tâm bèn dừng xe đỡ đứa bé dậy, hỏi nó có bị thương hay không. Lúc đó, người lớn chạy tới, đổ hô vị đồng tu ấy xô đứa bé té bị thương, nhờ luật sư thưa ra tòa, bắt bồi thường tám vạn Mỹ kim. Tại Mỹ quốc, trông thấy người già hoặc trẻ con té, lập tức gọi điện thoại báo cảnh sát, kêu cảnh sát đến đỡ người đó.
Nho gia dạy người: “Thành tựu điều tốt đẹp cho người, chẳng thành toàn điều xấu cho người”. Ai làm việc gì bất hảo đối với đại chúng, xã hội, chúng ta đừng giúp đỡ kẻ đó. Còn nếu ai làm việc gì có lợi cho xã hội, cho đại chúng thì chúng ta chớ nên ngăn trở, chướng ngại người ấy, chớ ghen ghét họ mà phải tùy hỷ. Tùy hỷ chẳng phải là trông thấy vui mừng là xong, phải tận tâm tận lực giúp đỡ kẻ đó, khiến cho sự nghiệp của kẻ đó được thành tựu viên mãn. Tận tâm tận lực là tu tùy hỷ công đức viên mãn.
Bản thân mình không có tiền, chạy cơm ba bữa đã là vấn đề, nên về tài lực chẳng thể giúp đỡ người khác được, nhưng chúng ta có thể khen ngợi người khác: “Ông X. đó là người tốt, làm việc tốt. Quý vị có năng lực hãy nên giúp đỡ ông ta”. Đó cũng là tùy hỷ công đức. Cho thấy tùy hỷ công đức là chuyện ai cũng có thể tu được, lúc nào, chỗ nào cũng có thể tu được. Trong cửa Phật, công đức của Phật, Bồ Tát, công đức của tổ sư đại đức, còn trong thế pháp thì công đức của chính phủ (thay thế bá tánh thực hiện sự nghiệp phước lợi), bậc thiện nhân trưởng giả dùng tài sản và năng lực tạo phước cho xã hội đại chúng đều đáng tùy hỷ, khen ngợi. Bồ Tát dạy chúng ta phải nỗ lực tinh tấn tu học, phải niệm niệm tiếp nối, chẳng hề gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp chẳng hề chán mệt.

1.6. Nguyện thứ sáu: Thỉnh chuyển pháp luân
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn thỉnh chuyển pháp luân giả: Sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế nhất thiết Phật sát, cực vi trần trung, nhất nhất các hữu bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số quảng đại Phật sát. Nhất nhất sát trung, niệm niệm hữu bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số nhất thiết chư Phật, thành Đẳng Chánh Giác. Nhất thiết Bồ Tát hải hội vi nhiễu. Nhi ngã tất dĩ thân khẩu ý nghiệp, chủng chủng phương tiện ân cần khuyến thỉnh chuyển diệu pháp luân. Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã thường khuyến thỉnh nhất thiết chư Phật chuyển chánh pháp luân vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Lại này thiện nam tử! Nói thỉnh chuyển pháp luân: Tất cả hết thảy cõi Phật mười phương ba đời cùng tột pháp giới hư không giới, trong mỗi một cực vi trần đều có cõi Phật rộng lớn nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, trong mỗi một cõi Phật, niệm niệm đều có hết thảy chư Phật thành Đẳng Chánh Giác nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, hết thảy Bồ Tát hải hội vây quanh. Tôi đều dùng thân ngữ ý nghiệp, mọi thứ phương tiện, ân cần khuyên mời chuyển pháp luân mầu nhiệm. Như thế hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, tôi thường khuyên mời hết thảy chư Phật chuyển chánh pháp luân chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp không có mệt chán)

“Thỉnh chuyển pháp luân” là một đại sự rất trọng yếu. Pháp luân đại biểu cho thuyết pháp lợi sanh. Luân (bánh xe) là tướng trạng viên mãn, biểu thị hết thảy pháp đức Phật nói đều viên mãn rốt ráo, chẳng mảy may khiếm khuyết gì. Hết thảy pháp đức Phật giảng “chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải vô chẳng phải hữu”; Luân rất thích hợp tượng trưng cho những nghĩa này. Luân có hình tròn, tròn trặn khép kín, cũng có cái tâm, nhưng cái tâm ấy không thể lấy được. Hết thảy pháp đức Phật đã nói là Chân Không Diệu Hữu, Diệu Hữu nhưng là Chân Không, Chân Không chính là Diệu Hữu, không - hữu bất nhị. Từ Luân thấy được Không - Hữu bất nhị, Tánh - Tướng nhất như, nên Luân được dùng để tượng trưng cho hết thảy pháp đức Phật đã nói. Nếu Luân bất động thì vô ích, Luân nhất định phải động. Nói cách khác, Phật pháp nhất định phải được hoằng dương, nếu không chúng sanh chẳng được lợi ích. Nhất định phải vì chúng sanh thuyết pháp, thuyết pháp rất giống như xoay bánh xe.
Thỉnh chuyển pháp luân là thỉnh pháp sư đại đức giảng kinh thuyết pháp. Phật tại thế, thỉnh Phật giảng kinh, thuyết pháp, hướng dẫn chúng ta phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Không có Phật ở đời thì thỉnh vị pháp sư đại đức hữu tu hữu chứng giảng kinh thuyết pháp cho chúng ta. Các đồng tu trẻ tuổi phải thật sự phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, tiếp nối huệ mạng của Phật, bất luận xuất gia hay tại gia đều phải học giảng kinh, phát tâm một đời theo đuổi công tác giáo dục của Phật giáo.
Phát tâm giảng kinh là đại sự nghiệp, đại nhân duyên, nhất định sẽ được chư Phật Như Lai gia trì, hộ pháp long thiên bảo hựu. Nếu tự mình đúng theo lời dạy tu hành chân chánh, đem tinh thần thể lực trí huệ của cả một đời cống hiến cho Phật giáo, cho hết thảy chúng sanh, thì sanh mạng một đời này mới không luống uổng, hữu ích khôn sánh. Các đồng tu trẻ tuổi hãy buông bỏ danh văn lợi dưỡng, vứt bỏ ngũ dục lục trần, phát tâm theo đuổi sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh thần thánh, đó là sự nghiệp vĩ đại khôn sánh vậy.

1.7. Nguyện thứ bảy: Thỉnh Phật trụ thế
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn thỉnh Phật trụ thế giả: Sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết Phật sát, cực vi trần số chư Phật Như Lai, tương dục thị hiện bát Niết Bàn giả, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, hữu học, vô học, nãi chí nhất thiết chư thiện tri thức, ngã tất khuyến thỉnh mạc nhập Niết Bàn, kinh ư nhất thiết Phật sát cực vi trần số kiếp, vị dục lợi lạc nhất thiết chúng sanh. Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã thử khuyến thỉnh vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Lại này thiện nam tử! Nói mời đức Phật ở lại đời là chư Phật Như Lai mười phương ba đời nhiều như số cực vi trong hết thảy cõi Phật tận pháp giới hư không giới sắp thị hiện[23] nhập Niết Bàn, và các Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, hữu học, vô học, cho đến hết thảy thiện tri thức, tôi đều khuyên mời chớ vào Niết Bàn, mà hãy ở lại đời trong số kiếp nhiều như số cực vi trần trong hết thảy cõi Phật vì muốn lợi lạc hết thảy chúng sanh. Như thế hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự khuyến thỉnh này của tôi chẳng có cùng tận, niệm niệm tiếp nối không có gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp chẳng hề chán mệt).

Phàm phu rốt cuộc vẫn là phàm phu, nghe giảng kinh thuyết pháp tựa hồ có thâu hoạch, có giác ngộ, nhưng đôi ba ngày sau bèn quên tuốt luốt. Nghe kinh một lần mà khai ngộ tựa hồ chẳng có ai, chỉ có mình Lục Tổ Huệ Năng mà thôi. Chân chánh ngộ nhập là một chuyện khó, nên cần phải thường mời thiện tri thức ở luôn nơi này, ngày ngày giảng kinh thuyết pháp giáo hóa chúng ta, chúng ta ngày ngày được Phật pháp huân tập, thời gian lâu sau sẽ vô hình trung giác ngộ.
Phật pháp thường trụ thế gian thì người thế gian bèn có phước báo. Phật pháp chẳng thường trụ thế gian, người thế gian gặp nhiều tai nạn. Thiên tai, tai nạn tự nhiên thuộc về y báo, y báo chuyển theo chánh báo, cũng là do tâm con người chiêu cảm. Bởi thế, người có phước báo sống nơi phước địa. Chúng ta muốn tu phước hành thiện nhưng rốt cục việc gì là phước, chuyện gì là thiện thường chưa thể phân biệt được. Thiện và phước tầng lớp khác nhau, phạm vi của chúng rộng hay hẹp chỉ có Phật, Bồ Tát mới có thể thấu hiểu triệt để chân tướng sự thật. Bởi thế, quý Ngài có năng lực trí huệ dạy chúng ta, chúng ta mới có thể thật sự biết đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, thế giới này mới hòa bình, nhân dân mới thật sự yên vui.
Thỉnh chuyển pháp luân và thỉnh Phật trụ thế nhìn thì đơn giản, nhưng trên thực tế lại chẳng dễ dàng. Vào thời đại Lương Võ Đế và sư Bảo Chí Công có câu chuyện như sau: Ở Tứ Xuyên có một vị cao tăng thật sự đắc đạo, tên là Bảo Hương thiền sư. Ngài ở Tứ Xuyên rất nhiều năm, dùng đủ mọi pháp phương tiện khuyên người đoạn ác tu thiện. Phong tục xứ ấy mỗi khi gặp dịp tế lễ phải sát sanh; mỗi năm pháp sư khổ công khuyên họ đừng tạo sát nghiệp, chẳng ai thèm nghe, trái lại còn cười nhạo Ngài. Pháp sư khó chịu vô cùng. Có một năm, có một vị cư sĩ lên kinh thành bái kiến ngài Bảo Chí Công, Bảo Chí Công là hóa thân của Quán Âm Bồ Tát. Lương Hoàng Sám do ngài Bảo Chí Công soạn. Bảo Chí Công hỏi vị cư sĩ Tứ Xuyên ấy:
- Hương Tứ Xuyên quý hay không?
Vị cư sĩ đáp:
- Hương Tứ Xuyên rất rẻ.
Ý ngài Bảo Chí Công hỏi Bảo Hương thiền sư quý hay không quý, có nghĩa là mọi người có tôn trọng, quý mến ông ta hay không? Ông cư sĩ nghe hỏi, tưởng Ngài hỏi hương để đốt của tỉnh Tứ Xuyên có quý hay không, bèn đáp hương xứ đó rất rẻ. Bảo Chí Công nói:
- Đã rẻ thì sao không đi đi?
Ông cư sĩ nghe không hiểu lời ngài Chí Công. Mấy hôm sau, ông ta trở về Tứ Xuyên, gặp Bảo Hương thiền sư. Thiền sư hỏi ông ta:
- Bảo Chí Công nói những gì?
Cư sĩ đáp:
- Ngài nói hương của tỉnh Tứ Xuyên ta quý hay không, tôi đáp rất rẻ. Bảo Chí Công nói: “Đã rẻ thì sao không đi đi?” Tôi nghe không hiểu gì cả!
Bảo Hương nghe nói vậy, gật đầu. Mấy hôm sau, lại có pháp hội tế lễ. Mọi người vẫn giết nhiều bò dê để cúng tế như cũ. Ngày hôm ấy, Bảo Hương chẳng giống như khi trước, Ngài đào một cái hố rất to, to như cái ao ở cổng chùa, đổ đầy nước. Ngài cũng tham dự pháp hội tế lễ, cũng theo họ ăn cá, ăn thịt. Trước đây Ngài khuyên người khác chớ sát sanh, nay lại theo họ ăn cá ăn thịt, mọi người vô cùng ngạc nhiên. Ăn uống xong, Thiền Sư đến bên cái hố, há miệng, những con cá Ngài ăn vào đều sống lại, được Ngài mửa ra bơi lội trong nước. Những con gà vịt Ngài ăn vào đều sống lại hết. Thần thông vừa hiện, mọi người sững sờ. Mửa hết xong, Ngài bèn đứng vãng sanh. Bậc cao tăng đắc đạo hoằng pháp lợi sanh ở địa phương này, chúng ta chẳng tôn trọng, Ngài đi mất rồi!
Câu chuyện này cảnh tỉnh chúng ta: Thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật tại thế, phải dùng phương pháp nào đây? Trọn chẳng phải vì tiền bạc, hưởng thọ, giả danh. Đem chùa miếu to cúng dường pháp sư để giữ Ngài ở lại được chăng? Chẳng giữ được! Dùng danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần giữ chẳng được! Chỉ có một phương pháp giữ lại được là dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh tiếp nhận sự dạy răn của pháp sư, y giáo phụng hành. Thỉnh pháp sư đến hoằng pháp lợi sanh, giáo hóa chúng sanh một phương thì lại càng phải nỗ lực tinh tấn bội phần, tu hành đúng như lời dạy. Có được cái tâm như thế, cái nguyện như thế, hành trì như thế nhất định có cảm ứng, sẽ cầu được bậc hữu tu hữu chứng ở lại địa phương ấy.
Mười đại nguyện vương tuy có mười điều, nhưng trên thực tế, Phổ Hiền đại nguyện chỉ có bảy điều, bảy điều đã giảng viên mãn. Ba điều sau đều là nói về hồi hướng. Thông thường trong hồi hướng kệ, thường nói đến hồi hướng Bồ Đề, hồi hướng Phật đạo, hồi hướng chúng sanh.

1.8. Nguyện thứ tám: Thường tùy Phật học
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn thường tùy Phật học giả: Như thử Sa Bà thế giới, Tỳ Lô Giá Na Như Lai tùng sơ phát tâm, tinh tấn bất thoái, dĩ bất khả thuyết bất khả thuyết thân mạng, nhi vi bố thí: bác bì vi chỉ, tích cốt vi bút, thích huyết vi mặc, thư tả kinh điển, tích như Tu Di. Vị trọng pháp cố, bất tích thân mạng, hà huống vương vị, thành ấp, tụ lạc, cung điện, viên lâm, nhất thiết sở hữu? Cập dư chủng chủng nan hành khổ hạnh, nãi chí thọ hạ thành đại Bồ Đề, thị chủng chủng thần thông, khởi chủng chủng biến hóa, hiện chủng chủng Phật thân, xử chủng chủng chúng hội: hoặc xử nhất thiết chư đại Bồ Tát chúng hội đạo tràng, hoặc xử Thanh Văn, cập Bích Chi Phật chúng hội đạo tràng, hoặc xử Chuyển Luân Thánh Vương, tiểu vương quyến thuộc chúng hội đạo tràng, hoặc xử Sát-lợi, cập Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ chúng hội đạo tràng, nãi chí hoặc xử thiên long bát bộ, nhân phi nhân đẳng chúng hội đạo tràng. Xử ư như thị chủng chủng chúng hội, dĩ viên mãn âm như đại lôi chấn, tùy kỳ nhạo dục, thành thục chúng sanh, nãi chí thị hiện nhập ư Niết Bàn. Như thị nhất thiết, ngã giai tùy học như kim Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na.
Như thị tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết Phật sát, sở hữu trần trung, nhất thiết Như Lai, giai diệc như thị. Ư niệm niệm trung, ngã giai tùy học. Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã thử tùy học, vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp, vô hữu bì yểm.
(Lại này thiện nam tử! Nói thường học theo Phật nghĩa là: Như đức Tỳ Lô Giá Na[24] trong thế giới Sa Bà này, từ sơ phát tâm, tinh tấn chẳng lùi, dùng bất khả thuyết bất khả thuyết thân mạng để bố thí: lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, chích máu làm mực, biên chép kinh điển, chất như núi Tu Di. Vì tôn trọng pháp nên chẳng tiếc thân mạng, huống gì ngôi vua, thành, ấp, xóm, làng, cung điện, vườn, rừng, hết thảy sở hữu và đủ mọi khổ hạnh khó làm. Cho đến ngồi dưới gốc cây thành đại Bồ Đề, thị hiện thần thông, khởi mọi thứ biến hóa, hiện các thứ thân Phật ở trong các chúng hội: Hoặc ở giữa chúng hội đạo tràng của hết thảy các đại Bồ Tát, hoặc ở giữa chúng hội đạo tràng của Thanh Văn và Bích Chi Phật, hoặc ở giữa chúng hội đạo tràng của Chuyển Luân Thánh Vương[25], tiểu vương, và quyến thuộc, hoặc chúng hội đạo tràng của Sát-lợi[26], Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ, cho đến chúng hội đạo tràng của thiên long bát bộ[27], nhân phi nhân v.v… Ở trong đủ mọi chúng hội như thế, dùng tiếng viên mãn như sấm rền lớn, tùy lòng ưa thích của mỗi loại mà thành thục[28] chúng sanh, cho đến thị hiện nhập Niết Bàn. Hết thảy như thế, tôi đều học theo như đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na ngày nay.
Như thế tận hư không giới, chúng sanh giới, mười phương ba đời hết thảy cõi Phật, trong tất cả vi trần, hết thảy Như Lai cũng đều như thế. Trong niệm niệm tôi đều học theo. Như thế tận hư không giới, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự tùy học này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chưa hề chán mệt).

“Thường học theo Phật” là hồi hướng Bồ Đề. Bồ Đề là Phật. Học Phật muốn thật sự thành tựu nhất định phải có thầy tốt chỉ dạy; lại còn phải có đồng học, đồng tham đạo hữu tốt thường ra sức dùi mài nghiên cứu thảo luận. Ngoài ra, còn phải có những gương tốt khiến cho chúng ta tu học thật sự có mục tiêu. Như Mạnh Tử học Khổng Tử là một thí dụ: Mạnh Tử chiếu theo trước tác của Khổng Tử, tu hành đúng theo lời dạy, có điều gì không hiểu bèn thỉnh giáo đệ tử của Khổng Tử. Thiện tri thức khó cầu, chẳng tìm được thiện tri thức thì cầu nơi cổ nhân. Như Ngẫu Ích đại sư học Liên Trì đại sư: Đương thời Liên Trì đại sư đã vãng sanh, ngài xem Liên Trì Đại Sư Toàn Tập, thờ Liên Trì đại sư làm thầy, nghe theo lời răn dạy của Liên Trì đại sư, tu hành theo đúng lời thầy dạy, bèn thành công, trở thành vị tông sư đương thời.
Thầy Lý Bỉnh Nam dạy tôi lấy Ấn Quang pháp sư làm thầy, dạy tôi đọc Ấn Quang Văn Sao, y chiếu lời Ấn Quang pháp sư răn dạy mà tu hành. Phổ Hiền Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát, dạy chúng ta thường học theo Phật, bảo chúng ta học theo Phật. Phật đã tu chứng đến mức viên mãn rốt ráo, chúng ta lấy Phật làm gương hòng un đúc chính mình. Phật dùng tâm như thế nào, dùng thái độ như thế nào để xử sự, đãi người tiếp vật, chúng ta học theo Ngài. Thường nhật Phật sanh hoạt như thế nào, chúng ta cứ học theo Ngài. Quý vị học đức Phật đúng từng bước, từng nét thì xin chúc mừng quý vị, quý vị đã thành Phật rồi đấy!
Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta học theo đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai tu học trong thế giới Sa Bà này, nhưng không giới thiệu A Di Đà Như Lai cho chúng ta. Mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc, rõ ràng là khuyên chúng ta đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thân cận A Di Đà Phật, nhưng ở đây thường học theo Phật, Ngài bèn dạy chúng ta học theo Tỳ Lô Giá Na Phật. Nghĩa này phải hiểu như thế nào? Chư vị phải nhớ kỹ: Học Phật tiếp nhận sự giáo dục của Phật, tối khẩn yếu là đừng quên mất gốc. Phổ Hiền Bồ Tát là học trò của Tỳ Lô Giá Na, bởi thế Ngài dạy chúng ta học theo thầy Ngài. Tỳ Lô Giá Na là Báo Thân Phật, Thích Ca Mâu Ni là Ứng Hóa Thân Phật, là thân ứng hóa của Tỳ Lô Giá Na Phật. Đây là lấy Phật làm tấm gương tu hành cho chúng ta. Chúng ta phải học theo đúng như Ngài.
“Từ sơ phát tâm”: Lúc Phật phát tâm tối sơ, chúng ta phải học theo Ngài phát tâm. Sau khi đức Phật đã phát tâm, trong một thời gian dài “tinh tấn chẳng lùi”, chúng ta cũng học làm theo đúng như thế. Thành Phật chẳng phải một hai ngày là đạt được, cũng chẳng phải là một hai đời thành tựu được đâu. Mỗi một vị Phật tu hành chứng quả đều là vô lượng kiếp. Thời gian dài lâu không cách gì tưởng tượng được. Bởi thế chúng ta phải phát tâm dài xa, phải có tâm nhẫn nại, việc này chẳng thể gấp rút được, phải nghiêm túc nỗ lực tu học. Lúc Phật còn tu nhân, sau khi phát tâm, thời gian tu hành dài lâu, phương pháp tu hành vô lượng vô biên.
Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát nêu ra một thí dụ: “Dùng thân mạng để bố thí”, tức là Nội Tài Bố Thí. Trong truyện ký có ghi lại những chuyện tu hành của Thích Ca Mâu Ni Phật trong đời đời kiếp kiếp, rất đáng để học theo. Lúc còn tu nhân, Phật tu Bồ Tát đạo, vì lưu thông kinh điển, trong chốn núi sâu tìm không ra giấy, Ngài tự lột da mình làm giấy, tách đầu xương làm bút, chích huyết làm mực để biên chép kinh giáo các vị cổ Phật đã nói để lưu truyền cho hậu thế ngõ hầu khỏi bị thất truyền. Đời đời kiếp kiếp tu hành như thế, biên chép kinh điển chồng chất cao như núi Tu Di, đời đời kiếp kiếp chẳng coi trọng nhục thân của chính mình, vị pháp vong thân. Thân thể còn chẳng coi trọng, huống gì vật ngoại thân? Vật ngoài thân càng chẳng để vào mắt. Khổ hạnh khó làm như thế, Ngài làm được. Nghĩ đến bản thân chúng ta học Phật, gặp phải chút khó khăn gì bèn bỏ cuộc ngay; so với Phật lúc tu nhân, chúng ta kém xa quá! Chẳng lạ gì Ngài thành Phật, chúng ta vẫn cứ luân hồi trong lục đạo.
Tôi giới thiệu A Di Đà Phật cùng quý vị đồng tu. Bởi lẽ Tỳ Lô Giá Na Phật chẳng dễ học, kinh điển của Ngài là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Một ngày niệm tám tiếng, chỉ niệm một lần thôi cũng phải mất nửa tháng [mới niệm xong toàn bộ kinh Hoa Nghiêm]. Chúng ta thờ A Di Đà Phật làm thầy, Thích Ca Mâu Ni Phật, Tỳ Lô Giá Na, mười phương hết thảy chư Phật Như Lai thấy quý vị chọn lựa như vậy mỗi Ngài đều vỗ tay, hoan hỷ rằng quý vị đã chọn đúng. Từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp chúng ta chưa từng chọn lựa đúng, lần này chọn lựa đúng. Chọn đúng thì phải tu hành đúng như lời dạy, một đời này quyết định thành Phật, lẽ nào chư Phật chẳng hoan hỷ, chẳng tán thán?
Đối với chính mình phải có tín tâm, A Di Đà Phật chẳng khó học, kinh điển của ngài là kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Hoa Nghiêm là cốt tủy của Đại Tạng Kinh, kinh Vô Lượng Thọ là cốt tủy của kinh Hoa Nghiêm. Quá khứ, Hoằng Nhất đại sư khuyên người học Phật nên nhập môn bằng Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao. Đáng tiếc con người hiện đại chẳng rành văn ngôn cho lắm, đọc Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao chẳng hiểu. Kinh Vô Lượng Thọ nói rõ ràng, gần gũi dễ hiểu, có thể nói là vô cùng khế cơ đối với người hiện thời. Hôm nay tôi khuyên các vị thường học theo Phật là học Phật A Di Đà, tu học theo sự giáo huấn của kinh Vô Lượng Thọ.
Kinh Vô Lượng Thọ phải thường xuyên niệm, phải niệm cho thật thuộc. Niệm Phật, niệm kinh là niệm cho hết vọng niệm, chẳng tạo nghiệp luân hồi sáu nẻo. Kinh điển niệm thuộc thì trong sanh hoạt thường nhật, khởi tâm động niệm đều nghĩ đến những điều kinh giáo huấn: Chúng ta có nên khởi những ý niệm này hay không? Chúng ta có nên nói lời này hay không? Chúng ta có nên làm việc này hay không? Phải tích cực tu học lời Phật A Di Đà giáo huấn, lâu ngày chầy tháng, quý vị sẽ tự nhiên biến đổi. Tâm phàm phu, tập khí phàm phu dần dần giảm thiểu, tập khí A Di Đà Phật ngày dần càng sâu, càng gần với đức Phật. Kinh điển chẳng thuộc, chúng ta khởi tâm động niệm chẳng có tiêu chuẩn; niệm thuộc thì mới có thể thường tùy Phật học.
Phải học phát tâm như Phật, phải học tu trì như Phật, phải học chứng quả như Phật, phải học hoằng pháp lợi sanh như Phật, mọi thứ đều phải học theo Ngài như thế. Cho đến tám tướng thành đạo chúng ta cũng phải học tập theo. Tám tướng thành đạo là diễn kịch, là biểu diễn cho hết thảy chúng sanh xem, chẳng những chỉ có ngôn giáo mà còn có thân giáo. Học A Di Đà Phật là học mười phương ba đời hết thảy Phật; bởi Phật Phật đạo đồng, một tức là nhiều, nhiều chính là một. Biết được đạo lý này, chúng ta bèn rất an tâm, tâm lý yên ổn, chẳng hoài nghi, chẳng lo lắng, dùng tâm chân thành cung kính để học.

1.9. Nguyện thứ chín: Hằng thuận chúng sanh
Chánh kinh:
Phục thứ thiện nam tử! Ngôn hằng thuận chúng sanh giả: Vị tận pháp giới, hư không giới, thập phương sát hải, sở hữu chúng sanh chủng chủng sai biệt, sở vị: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hoặc hữu y ư địa, thủy, hỏa, phong nhi sanh trụ giả, hoặc hữu y không, cập chư mãng mộc nhi sanh trụ giả, chủng chủng sanh loại, chủng chủng sắc thân, chủng chủng hình trạng, chủng chủng tướng mạo, chủng chủng thọ lượng, chủng chủng tộc loại, chủng chủng danh hiệu, chủng chủng tâm tánh, chủng chủng tri kiến, chủng chủng dục lạc, chủng chủng ý hạnh, chủng chủng oai nghi, chủng chủng y phục, chủng chủng ẩm thực, xử ư chủng chủng thôn doanh, tụ lạc, thành ấp, cung điện, nãi chí nhất thiết thiên long bát bộ, nhân phi nhân đẳng, vô túc, nhị túc, tứ túc, đa túc, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng. Như thị đẳng loại ngã giai ư bỉ, tùy thuận nhi chuyển chủng chủng thừa sự, chủng chủng cúng dường, như kính phụ mẫu, như phụng sư trưởng, cập A La Hán, nãi chí Như Lai, đẳng vô hữu dị. Ư chư bệnh khổ, vị tác lương y. Ư thất đạo giả, thị kỳ chánh lộ. Ư ám dạ trung, vị tác quang minh. Ư bần cùng giả, linh đắc phục tạng. Bồ Tát như thị bình đẳng, nhiêu ích nhất thiết chúng sanh.
Hà dĩ cố? Bồ Tát nhược năng tùy thuận chúng sanh, tắc vi tùy thuận cúng dường chư Phật. Nhược ư chúng sanh tôn trọng thừa sự, tắc vi tôn trọng, thừa sự Như Lai. Nhược linh chúng sanh sanh hoan hỷ giả, tắc linh nhất thiết Như Lai hoan hỷ.
Hà dĩ cố? Chư Phật Như Lai dĩ đại bi tâm nhi vi thể cố. Nhân ư chúng sanh, nhi khởi đại bi. Nhân ư đại bi, sanh Bồ Đề tâm. Nhân Bồ Đề tâm, thành Đẳng Chánh Giác. Thí như khoáng dã, sa tích chi trung, hữu đại thọ vương. Nhược căn đắc thủy, chi diệp hoa quả tất giai phồn mậu. Sanh tử khoáng dã, Bồ Đề thọ vương, diệc phục như thị. Nhất thiết chúng sanh nhi vi thọ căn. Chư Phật Bồ Tát nhi vi hoa quả. Dĩ đại bi thủy nhiêu ích chúng sanh, tắc năng thành tựu chư Phật Bồ Tát trí huệ hoa quả.
Hà dĩ cố? Nhược chư Bồ Tát dĩ đại bi thủy nhiêu ích chúng sanh, tắc năng thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cố. Thị cố Bồ Đề thuộc ư chúng sanh. Nhược vô chúng sanh, nhất thiết Bồ Tát chung bất năng thành Vô Thượng Chánh Giác.
Thiện nam tử! Nhữ ư thử nghĩa, ưng như thị giải. Dĩ ư chúng sanh tâm bình đẳng cố, tắc năng thành tựu viên mãn đại bi. Dĩ đại bi tâm tùy chúng sanh cố, tắc năng thành tựu cúng dường Như Lai. Bồ Tát như thị tùy thuận chúng sanh, hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã thử tùy thuận vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Lại này thiện nam tử! Nói hằng thuận chúng sanh nghĩa là tận pháp giới, hư không giới, mười phương biển cõi Phật, tất cả chúng sanh mọi thứ sai biệt, tức là: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh[29], hoặc có loài nương nơi đất, nước, gió, lửa mà tồn tại, hoặc có loài nương vào không trung và các thứ cỏ cây để tồn tại. Mọi thứ sanh loại, mọi thứ sắc thân[30], mọi thứ hình dạng, mọi thứ tướng mạo, mọi thứ tuổi thọ, mọi thứ tộc loại, mọi thứ danh hiệu, mọi thứ tâm tánh, mọi thứ tri kiến, mọi thứ dục lạc, mọi thứ ý hạnh, mọi thứ oai nghi[31], mọi thứ y phục, mọi thứ thức ăn, sống trong mọi thứ thôn doanh, làng xóm, thành ấp, cung điện, cho đến hết thảy thiên long bát bộ, nhân phi nhân v.v… không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, có sắc, không sắc[32], có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng[33]. Với những loài như thế, tôi đều ở nơi đó tùy thuận thực hiện mọi thứ thừa sự[34], mọi thứ cúng dường như kính cha mẹ, như thờ sư trưởng, và A La Hán, thậm chí giống như Như Lai chẳng sai khác. Với những kẻ bệnh khổ, tôi làm lương y. Với kẻ lạc đường, chỉ cho đường đúng. Trong nơi tăm tối, bèn làm quang minh. Với kẻ bần cùng khiến được kho tàng. Bồ Tát bình đẳng lợi ích hết thảy chúng sanh như thế.
Vì sao vậy? Nếu Bồ Tát có thể tùy thuận chúng sanh thì chính là tùy thuận cúng dường chư Phật. Nếu tôn trọng thừa sự chúng sanh chính là tôn trọng thừa sự Như Lai. Nếu làm cho chúng sanh hoan hỷ chính là khiến cho hết thảy Như Lai hoan hỷ.
Vì sao vậy? Vì chư Phật Như Lai lấy tâm đại bi làm thể. Nhân nơi chúng sanh mà khởi đại bi; nhân nơi đại bi, sanh tâm Bồ Đề; nhân tâm Bồ Đề thành Đẳng Chánh Giác. Ví như trong chốn đồng hoang sa mạc[35], có đại thọ vương[36], nếu rễ cây hút được nước thì cành, lá, hoa, quả thảy đều sum suê. Thọ vương Bồ Đề trong chốn đồng hoang sanh tử cũng giống như thế. Hết thảy chúng sanh là rễ cây, chư Phật, Bồ Tát là hoa quả. Dùng nước đại bi lợi ích chúng sanh thì có thể thành tựu hoa quả trí huệ Phật, Bồ Tát.
Vì sao vậy? Chư Phật, Bồ Tát dùng nước đại bi lợi ích chúng sanh thì có thể thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì thế Bồ Đề thuộc nơi chúng sanh. Nếu không có chúng sanh thì hết thảy Bồ Tát trọn chẳng thể thành Vô Thượng Chánh Giác.
Này thiện nam tử! Đối với nghĩa này ông nên hiểu như thế. Do tâm bình đẳng đối với chúng sanh nên có thể thành tựu viên mãn đại bi; vì dùng tâm đại bi tùy thuận chúng sanh nên có thể thành tựu sự cúng dường Như Lai. Bồ Tát tùy thuận chúng sanh như thế hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự tùy thuận này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng có chán mệt)

Nguyện thứ tám là hồi hướng Bồ Đề. Hằng thuận chúng sanh là hồi hướng chúng sanh. Nguyện thứ mười là hồi hướng pháp giới. Trong Đại kinh (kinh Vô Lượng Thọ) đức Phật dạy chúng ta phải đem công đức tu học hồi hướng về ba chỗ: Bồ Đề, chúng sanh, pháp giới. Vì sao phải hồi hướng? Phàm phu chẳng thể thành Phật, thành Bồ Tát là do Ngã Chấp quá nặng, khởi tâm động niệm chỉ nghĩ đến mình. Do đấy, từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta đời đời kiếp kiếp tu hành, dù chỉ Sơ Quả cũng chẳng chứng được. Đức Phật dạy chúng ta pháp môn Hồi Hướng chính là dạy chúng ta phải phá Ngã Chấp, khiến chúng ta khởi tâm động niệm chẳng nghĩ đến mình, khởi tâm động niệm chẳng vì tự mình, mà vì Bồ Đề, vì chúng sanh, vì pháp giới, mở rộng tâm lượng. Chỉ có mở rộng tâm lượng thì vọng tâm mới phá trừ, chân tâm mới hiện tiền, có vậy mới có thể vượt thoát tam giới, mới hòng thành Phật, thành Bồ Tát. Bởi vậy, pháp môn Hồi Hướng trọng yếu phi thường.
“Nguyện đem công đức này,
Trang nghiêm tịnh độ Phật,
Trên đền bốn ân nặng,
Dưới cứu khổ tam đồ.
Nếu có ai thấy nghe,
Đều phát tâm Bồ Đề,
Hết một báo thân này,
Cùng sanh nước Cực Lạc”.
Đấy là bài kệ hồi hướng chúng ta thường niệm mỗi khi niệm Phật, niệm kinh, giảng kinh xong.
“Nguyện đem công đức này, trang nghiêm tịnh độ Phật” là hồi hướng pháp giới.
“Trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ tam đồ” là hồi hướng chúng sanh. Phật pháp niệm niệm chẳng quên hiếu kính. Tứ Ân: ân thứ nhất là ân cha mẹ. Phật pháp chẳng khéo học tức là bất hiếu. Lên đài giảng kinh, nếu chẳng giảng khéo, giảng sai lầm tức là bất hiếu đối với cha mẹ, bất kính đối với sư trưởng. Người nghe kinh dưới đài, nếu chẳng chú tâm nghe, cũng là bất hiếu bất kính. Ân thứ hai là ân thầy dạy. Phật là thầy của chúng ta, phải báo ân thầy. Ân thứ ba là ân quốc gia. Chính quyền cai trị tốt đẹp, ai nấy đều giữ pháp, người người đều hành thiện, mọi người an cư lạc nghiệp, đấy là ân đức của chánh phủ. Ân thứ tư là ân chúng sanh, tức là ân đức của nhân dân. Cơm ăn áo mặc của chúng ta, hết thảy những thứ cần dùng cho cuộc sống đều phải dựa vào đại chúng trong xã hội, đại chúng trong xã hội có ân đức đối với lẫn nhau. “Hạ tế tam đồ khổ” (Dưới cứu khổ tam đồ): Tế là cứu tế, siêu độ. Tam Đồ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta nỗ lực tu học hòng có năng lực giúp họ lìa khổ được vui.
“Nếu có ai thấy nghe, đều phát tâm Bồ Đề” là hồi hướng Bồ Đề. Tám câu kệ hồi hướng đủ cả ba thứ hồi hướng. Niệm kệ hồi hướng phải từ nội tâm chân chánh phát nguyện, tâm và miệng tương ứng, công đức vô lượng vô biên. Câu cuối cùng quy kết thế giới Cực Lạc: “Hết một báo thân này, cùng sanh nước Cực Lạc”. Tám câu kệ này viên mãn phi thường.
Đức Phổ Hiền nói: “Tất cả chúng sanh mọi thứ sai biệt”, ở đây nói đến hữu tình chúng sanh trong chín pháp giới. Các thứ sanh loại: Sanh loại có bốn thứ khác nhau là noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh. Các thứ sắc thân: thân thể, diện mạo khác nhau, chỉ nói tóm gọn trong phạm vi nhân loại thôi, màu da đã khác nhau, có người da trắng, người da vàng, người da đen. Các thứ hình dạng: Người thuộc chủng tộc nào, quốc gia nào chúng ta nhìn biết ngay, người Trung Quốc có hình dạng người Trung Quốc, người Ấn Độ có hình dạng người Ấn Độ. Các thứ tướng mạo: Tướng mạo bất đồng. Các thứ thọ lượng: Có kẻ trường thọ, có kẻ đoản mạng. Chủng tộc sai khác, danh hiệu bất đồng, những suy nghĩ trong tâm chẳng giống nhau, kiến giải chẳng tương đồng, tư tưởng sai khác, yêu thích khác biệt, cho đến những tập quán thói quen sanh hoạt cũng bất đồng, thức ăn cũng bất đồng. Bồ Tát dạy chúng ta: “Với những loài như thế tôi đều tùy thuận theo họ”: Đối với các loài chúng sanh sai khác đều phải tùy thuận hết. Tùy thuận như thế nào? Phải nhẫn. Nếu quý vị không nhịn chịu, quý vị chẳng thể tùy thuận được.
“Thường học theo Phật” là đặt nặng Bố Thí. Cái gì Phật cũng buông xuống hết thì trong Lục Độ đó chính là học Xả. “Hằng thuận chúng sanh” là học lấy Nhẫn Nhục trong Lục Độ. Chúng ta nhẫn được như thế, nhẫn được thì sẽ thuận được. Thuận theo chúng sanh, chúng sanh sẽ hoan hỷ. Đặc biệt là người học Phật, nếu chẳng thể nhẫn nại, ắt sẽ bị người trông thấy khinh cười. Nêu một thí dụ nông cạn dễ thấy nhất: Đến xứ nào thuận theo phong tục xứ đó. Anh ăn cái gì, tôi ăn cái đó; chớ đừng tôi thích ăn cái gì, anh phải thay tôi làm cái đó, gây thêm phiền phức cho người ta. Phải thuận theo chúng sanh!
Mình thích nằm giường cứng, đến xứ này, người ta cho quý vị nằm giường lò xo nệm mềm, quý vị cũng phải cam chịu, chẳng thể buộc người khác đổi giường chiếu khác cho quý vị được. Lễ tiết, thù tạc, mọi thứ phải tùy thuận. Đối với người ta phải dùng tâm hiếu kính mà tùy thuận, tùy thuận hết thảy mọi người giống như tùy thuận cha mẹ. Kính hết thảy chúng sanh giống như kính trọng thầy dạy. Tu hành nhất định phải tu cái tâm thanh tịnh của chính mình ngay nơi quảng đại quần chúng sai biệt. Trong hoàn cảnh cực bất thanh tịnh, tâm ta thanh tịnh thì công phu thành tựu rồi; chẳng phải là vào núi sâu hang thẳm tu hành, hoàn cảnh thanh tịnh, nhưng tâm suy bậy nghĩ bạ, tâm chẳng thanh tịnh đâu à! Tâm thanh tịnh phải tu trong chốn hồng trần. Tâm bình đẳng phải tu trong hoàn cảnh cực bất thanh tịnh.
Bình đẳng đối với kẻ oán người thân, không gì là bất bình đẳng cả. Bởi thế, oan gia là thiện tri thức, là thầy tốt, quý vị nhờ đó được bình đẳng. Tu hành như vậy chính là như kinh Hoa Nghiêm dạy: Dùng sự để luyện tâm, phải trải qua đủ mọi sự vật sai biệt, mọi chuyện sai biệt, ở trong đó mới có thể thật sự tu hành đến mức thanh tịnh bình đẳng. Đạt đến thanh tịnh bình đẳng thì Lục Độ của Bồ Tát viên mãn. Lục Độ là nhân, thanh tịnh bình đẳng giác là quả báo.
Phải coi hết thảy chúng sanh như chư Phật, như Bồ Tát. Trong mắt Phật, mọi chúng sanh đều là Phật. Lúc Phật thành Phật, Ngài thấy hết thảy chúng sanh nơi đại địa cùng thành Phật đạo. Điều này cũng như kinh Hoa Nghiêm đã nói: “Tình và vô tình cùng viên mãn Chủng Trí”, không có gì chẳng phải là Phật. Trong con mắt phàm phu, Phật, Bồ Tát cũng là phàm phu. Trong pháp giới có Phật hay chăng? Có phàm phu hay chăng? Không có chi cả! Không có Phật, không có phàm phu, pháp giới là bình đẳng. Vì sao lại có sai biệt?
Là vì tâm tưởng quý vị bất bình đẳng. Bởi thế pháp giới bình đẳng biến thành pháp giới sai biệt. Pháp giới bình đẳng là thật, pháp giới sai biệt là giả, là do vọng tâm phân biệt, chấp trước biến hiện. Học Phật phải trừ khử sai biệt thì cảnh giới bình đẳng thật sự mới hiện tiền. Mười nguyện Phổ Hiền có thể giúp chúng ta đạt đến cảnh giới rốt ráo viên mãn. Trong pháp giới bình đẳng thấy sai biệt là chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi hóa độ chúng sanh, là độ tha viên mãn. Trong pháp giới sai biệt thấy bình đẳng là chính mình tu hành chứng quả, là tự độ viên mãn.
Đối với hết thảy chúng sanh khổ nạn, chúng ta phải tận tâm tận lực giúp đỡ họ. Khổ nạn do đâu mà có? Chẳng tìm được bệnh căn thì chẳng có cách gì để có thể triệt để giúp đỡ họ được. Tất cả hết thảy chúng sanh khổ nạn vốn là do mê hoặc, điên đảo. Nói cách khác, đối người, đối sự, đối vật, nghĩ sai, thấy sai, làm sai. Có lục đạo chúng sanh là do mức độ lầm lạc sâu hay cạn, rộng hay hẹp mà biến thành lục đạo. Trời người cách nghĩ, cách nhìn sai lầm khá cạn, còn súc sanh, ngạ quỷ cách nghĩ sai lầm sâu hơn; chúng sanh trong địa ngục cách nghĩ hoàn toàn lầm lạc. Phải nhờ vào giáo dục của đức Phật mới có thể dạy chúng sanh khôi phục Chánh Tri Chánh Kiến, có cách nghĩ, cách nhìn chánh xác đối với hết thảy sự lý nhân sanh vũ trụ. Muốn cứu vớt chúng sanh khổ nạn thì nhất định phải giúp họ phá mê khai ngộ. Nói cách khác, phải đem nền giáo dục của đức Phật giới thiệu cho họ, giúp họ tu học, tự nhiên họ sẽ giải quyết được vấn đề.
Tại gia cư sĩ làm lụng, buôn bán kiếm lời muốn làm nhiều việc tốt có được hay chăng? Nên làm việc tốt lớn lao là hoằng pháp lợi sanh! Làm bằng cách nào? In kinh sách, in các thiện thư dạy người sửa lỗi, sao chép băng thâu âm, thâu hình giảng kinh tặng người khác, đó là việc tốt nhất định phải làm, đó là hoằng pháp lợi sanh. Cũng có thể dùng danh nghĩa công ty, tên tiệm để in sách, đăng quảng cáo cho công ty trên băng ghi âm, ghi hình, kết duyên các nơi, thì cũng giống như thay cho công ty tuyên truyền quảng cáo, lợi tức nhất định tăng trưởng. Đem băng ghi âm, ghi hình giảng kinh phát trên đài phát thanh hay đài truyền hình, khiến nhiều người mở máy TV, bật radio bèn được nghe giảng kinh, thuyết pháp, công đức càng lớn. Chẳng nhất định phải là người có tiền mới làm được công đức lớn lao; người không tiền chẳng thể tu đại công đức, hiểu vậy là sai. Trong nhà Phật nói đến tu công đức là nói tu từ tâm, cốt sao tận tâm tận lực thì công đức bèn lớn. Tâm lực chưa dốc sạch thì công đức sẽ nhỏ. Viên mãn đại công đức mỗi cá nhân đều có thể tu được, đều có thể thành tựu viên mãn, đó gọi là tâm đại từ bi, là chân chánh hằng thuận chúng sanh. Muốn thật sự giúp chúng sanh giải quyết hết thảy khổ nạn thì phải dựa vào sự giáo dục của đức Phật.
Điểm đặc sắc của hạnh nguyện Phổ Hiền là mỗi một hạnh nguyện đều kiến lập trên cơ sở thanh tịnh bình đẳng quảng đại cung kính; đấy là điểm khác biệt so với hạnh nguyện của các Bồ Tát khác. Bồ Tát có thể bình đẳng lợi ích hết thảy chúng sanh là vì có thể tùy thuận. Tùy thuận chẳng phải là chuyện dễ làm được. Người Trung Quốc nói đến hiếu đạo, bên chữ Hiếu lại thêm chữ Thuận. Chẳng Thuận tức là bất hiếu. Phải có trí huệ cao độ, từ bi chân chánh, thì mới có thể thật sự thuận theo hết thảy chúng sanh.
Phổ Hiền Bồ Tát lại dạy chúng ta: “Nếu Bồ Tát có thể tùy thuận chúng sanh thì chính là tùy thuận cúng dường chư Phật”. Phật đã nói hết thảy chúng sanh vốn là Phật, do đây biết rằng: Hằng thuận chúng sanh đúng thực là tùy thuận cúng dường chư Phật. Dùng cái tâm lễ kính chư Phật ấy, thái độ ấy để tùy thuận hết thảy chúng sanh thì thật là phi thường; đó chính là tu hành đến nơi đến chốn. Nếu chẳng tu hành đến nơi đến chốn thì vẫn còn có tâm phân biệt, tâm chấp trước. Là Phật hay là Bồ Tát thì ta phải cung kính, nhưng với kẻ phàm phu, người bại hoại ta có phải cung kính hay chăng? Một niệm phân biệt, chấp trước, hạnh Phổ Hiền đánh mất ngay, bởi lẽ chẳng có tâm bình đẳng. Chư Phật coi chúng sanh như cha mẹ đối với con cái. Nếu có thể đối xử với hết thảy chúng sanh hòa mục như người một nhà, Phật tâm bèn hoan hỷ sẽ khiến cho hết thảy Như Lai hoan hỷ. Phật niệm niệm mong trông thấy chúng sanh viên thành Phật đạo. Điều đức Phật thích thấy chúng ta làm nhất là hằng thuận chúng sanh.
“Chư Phật Như Lai dùng tâm đại bi để làm thể”: Ở đây nói đến chỗ dụng tâm bất đồng giữa ta và Phật. Chúng ta dụng tâm: ý niệm đầu tiên là nghĩ đến mình, chẳng bao giờ nghĩ ngay đến người khác. Dù có nghĩ đến người khác thì kẻ đó phải là người thân thiết của mình, có dính líu đến mình. Người không quan hệ đời nào nghĩ đến! Huống hồ, lại còn súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, nếu quý vị thật sự nghĩ đến họ, còn ăn thịt chúng sanh được sao? Nhất định chẳng thể được!
Hằng thuận chúng sanh: Súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục cũng là chúng sanh, đều phải bình đẳng tùy thuận. Từ chỗ này chúng ta mới thật sự nhận thấy hạnh Phổ Hiền khó tu. Chúng ta nỗ lực tu học, chỉ có thể học được ít phần, một phần trăm, hai phần trăm là cùng; nếu muốn tu được năm mươi phần trăm, chúng ta tu không nổi! Phật dùng cái tâm bình đẳng từ bi, chẳng có phân biệt. Lòng từ bi lìa hết thảy phân biệt chấp trước thì gọi là đại từ đại bi. Đối với hết thảy hữu tình chúng sanh trong chín pháp giới, Phật đều khởi từ bi, từ Từ Bi xuất sanh Bồ Đề tâm, do từ bi bèn triệt để giác ngộ, giác ngộ hết thảy chúng sanh và mình cùng một thể. Điều này chúng ta không biết được.
Nếu chúng ta biết được, tâm đồng thể đại bi sẽ tự nhiên sanh khởi, bởi lẽ hết thảy chúng sanh và ta là một thể. Đã là một thể, sao còn có thể tàn hại chúng sanh? Bởi vì tàn hại chúng sanh chính là tàn hại chính mình. Trong thế gian há có kẻ nào ngu ngốc đến nỗi chính mình tự hại mình? Biết “hết thảy chúng sanh chính là mình” là điều chư Phật Như Lai đã chứng, là cảnh giới khó thể lãnh hội, rất khó hiểu. Làm sao chúng sanh lại có biến thành chính mình cơ chứ! Trong kinh luận, Phật thường dùng tỷ dụ để thuyết pháp, hy vọng mọi người do tỷ dụ sẽ ngộ nhập cảnh giới ấy.
Ví như người nằm mộng, lúc tỉnh mộng thì vẫn nhớ rất rõ những sự tình, cảnh tượng trong mộng. Trong mộng thấy có chính mình, cũng mộng thấy rất nhiều người, rất nhiều chúng sanh, cũng mộng thấy sơn hà đại địa, cũng mộng thấy hư không, cảnh giới trong mộng phảng phất như cảnh giới hiện tiền, bản thân mình trong mộng ấy nào phải do cha mẹ sanh ra. Người, động vật, sơn hà đại địa, hư không trong mộng do đâu mà có? Toàn thể mộng cảnh đều do tự tâm quý vị biến hiện đó thôi. Tâm ấy chẳng phải là chân tâm mà là vọng tâm, bởi lẽ chân tâm chẳng có mộng. Công phu tu hành đạt đến mức độ tương đương hoặc niệm Phật đến mức Nhất Tâm Bất Loạn sẽ chẳng có mộng. Những người tu hành chứng quả A La Hán cũng không có mộng.
Do đó biết rằng: mộng là vọng tâm. Vọng tâm từ đâu có? Chân tâm và vọng tâm chúng ta đều tìm chẳng ra. Bởi lẽ tâm chẳng có tướng, chỉ là lúc nằm mộng bèn thấy được, lúc nằm mộng tâm biến thành tướng. Mộng cảnh chính là tâm của quý vị, cái tâm của quý vị biến ra mộng cảnh. Tất cả hết thảy cảnh giới trong mộng đều từ quý vị, đều là cảnh giới do cái tâm của chính quý vị biến hiện ra. Trừ chính mình, cái gì cũng chẳng có. Trong kinh luận, Phật thường nói: “Toàn vọng tức chân, toàn chân tức vọng”. Xuyên qua mộng cảnh, lắng lòng suy nghĩ, chúng ta sẽ hiểu đôi phần ý nghĩa hai câu Phật vừa nói trên. Vọng là hiện tượng. Hiện thời sơn hà đại địa, chúng sanh lăng xăng, động vật, thực vật, khoáng vật bày ra trước mắt chúng ta là do đâu mà có? Là do tự tánh của chúng ta biến hiện. Kinh Kim Cang chép: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”. Tướng Vọng là do tự tánh của chúng ta sau khi bị mê bèn hiện ra tướng cảnh giới. Vĩnh Gia đại sư nói: “Trong mộng rõ ràng có sáu nẻo, tỉnh rồi đại thiên trống rỗng”. Đại triệt đại ngộ, viên mãn thành Phật, đại thiên thế giới chẳng còn nữa, bởi lẽ chân tánh tỉnh mộng.
Mười phương thế giới rốt cục là thật hay giả? Giả hay thật đều chẳng thể nói được. Quý vị nói là thật ư, nó là giả đấy; bảo là giả ư, nó thật có đấy! Bởi thế, chớ khởi nghi tình là thật hay giả, cứ biết chân tướng sự thật là được rồi! Hư không pháp giới do tự tánh biến hiện, hết thảy hữu tình chúng sanh cũng do tự tánh biến hiện. Phật dạy: “Mười phương ba đời, cùng chung một Pháp Thân” là nói đến một sự thật. Phải thành Phật mới thật sự biết được.
Bởi thế, Phật giúp đỡ chúng sanh, vì hết thảy chúng sanh giảng kinh thuyết pháp, giúp họ khai ngộ, giúp họ tu hành chứng quả. Đối với Phật mà nói, đó là nghĩa vụ của Ngài, là chuyện Ngài phải làm. Ngài chẳng kể công, giống như mẹ hiền chăm sóc con thơ, không điều nhỏ nhặt nào lại chẳng quan tâm. Nếu quý vị hỏi Phật vì sao từ bi phổ độ hết thảy chúng sanh? Phật sẽ đáp: “Vì họ đồng thể với ta”. Độ người chính là độ mình. Hiểu rõ chân tướng sự thật mới hiểu hằng thuận chúng sanh chính là cúng dường chư Phật, khiến cho hết thảy chư Phật hoan hỷ. Bởi vậy, Phật do đồng thể đại bi mà xuất sanh Bồ Đề tâm, triệt để giác ngộ. Do Bồ Đề tâm, thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đấy chính là con đường quang minh rộng lớn để thành Phật của chư Phật. Bây giờ chúng ta cũng đi theo con đường này, ắt sẽ thành Phật.
Tùy thuận chúng sanh chẳng thiệt thòi đâu. Trước mắt thấy tựa hồ thua thiệt, thật sự chẳng thua thiệt. Nhịn được, nhường được, tùy duyên được thì sẽ thành tựu đức hạnh cho chính mình. Nào ai biết chịu thiệt chính là chiếm tiện nghi. Với pháp thế gian, ta chịu thiệt một tí, nhưng trong Phật pháp ta chiếm đại tiện nghi.
Thế pháp chướng ngại Phật pháp. Với thế pháp, chúng ta lùi một bước, nhường một bước thì chướng ngại đối với Phật pháp bớt được một tầng, liền được đại tự tại. Trong kinh Vô Lượng Thọ, cương lãnh tu hành là tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng. Lìa khỏi hết thảy chúng sanh thì tu hành bình đẳng thanh tịnh ở chỗ nào? Không có chỗ nào để tu cả! Tâm thanh tịnh phải tu nơi nhiễm cảnh, tâm bình đẳng phải tu trong hoàn cảnh cực bất bình thì mới là công phu, mới hòng chân chánh thọ dụng. Ngày nào đó, chúng ta thấy thế giới này, thấy hết thảy chúng sanh tâm thật sự bình đẳng thì tâm đại từ đại bi sẽ hiện tiền.
Phải tu bao lâu mới đạt đến cảnh giới ấy? Mỗi người mỗi khác! Người lợi căn đạt cảnh giới này rất nhanh, kẻ độn căn thì mười năm, hai mươi năm, cũng có khi cả đời tu chẳng thành, nguyên nhân là vì chẳng buông xuống nổi. Muốn thật sự đạt được thanh tịnh bình đẳng thì nhất định phải thấy thấu suốt, buông xuống. Thân tâm, thế giới hết thảy buông xuống hết; pháp thế gian, pháp xuất thế gian cứ hễ còn có mảy may ý niệm, có mảy may chấp trước, nghi hoặc, là quý vị chưa buông xuống được. Phải thấy thấu suốt, buông xuống rồi thì mới có thể dùng tâm đại bi tùy thuận hết thảy chúng sanh, mới có thể được như Phổ Hiền Bồ Tát nói: thành tựu cúng dường hết thảy Như Lai.

1.10. Nguyện thứ mười: Phổ giai hồi hướng[37]
Chánh kinh:
Phục thứ thiện nam tử! Ngôn phổ giai hồi hướng giả: Tùng sơ lễ bái, nãi chí tùy thuận, sở hữu công đức giai tất hồi hướng, tận pháp giới, hư không giới, nhất thiết chúng sanh, nguyện linh chúng sanh thường đắc an lạc, vô chư bệnh khổ. Dục hành ác pháp, giai tất bất thành. Sở tu thiện nghiệp, giai tốc thành tựu. Quan bế nhất thiết chư ác thú môn, khai thị nhân thiên Niết Bàn chánh lộ. Nhược chư chúng sanh nhân kỳ tích tập chư ác nghiệp cố, sở cảm nhất thiết cực trọng khổ quả, ngã giai đại thọ, linh bỉ chúng sanh tất đắc giải thoát, cứu cánh thành tựu vô thượng Bồ Đề. Bồ Tát như thị sở tu hồi hướng, hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã thử hồi hướng vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn; thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Lại này thiện nam tử! Nói hồi hướng khắp tất cả là từ sự lễ bái ban đầu cho đến tùy thuận, tất cả công đức thảy đều hồi hướng tận pháp giới, hư không giới hết thảy chúng sanh. Nguyện cho chúng sanh thường được yên vui, không có các bệnh khổ. Muốn làm chuyện ác thảy đều chẳng thành. Tu tập thiện nghiệp đều mau thành tựu. Đóng chặt hết thảy cửa [dẫn vào] các đường ác, mở bày đường chánh: trời, người, Niết Bàn. Nếu các chúng sanh do vì các nghiệp ác tích tập, cảm lấy hết thảy quả khổ rất nặng, tôi đều chịu thay, khiến các chúng sanh đó đều được giải thoát, rốt ráo thành tựu Vô Thượng Bồ Đề. Bồ Tát tu hồi hướng như thế, hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận nhưng sự hồi hướng này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp không hề chán mệt)

Đây là hồi hướng pháp giới, mà cũng là tóm gộp cả chín điều nguyện trước: Từ lễ kính chư Phật, khen ngợi Như Lai, rộng tu cúng dường, sám hối nghiệp chướng cho đến tùy thuận chúng sanh, tất cả công đức thảy đều hồi hướng, trong tâm chẳng tiêm nhiễm mảy may, có như thế tâm mới thanh tịnh. Có người tu công đức, chỉ sợ công đức bị người khác lấy mất, chẳng dám hồi hướng; vì tâm lượng nhỏ nhen nên chẳng thể thành tựu. Có người sợ đem công đức niệm Phật hồi hướng cho người khác, chính mình chẳng có công đức. Thật ra, đó là quan niệm sai lầm.
Công đức: Công là công phu tu hành của chính mình, Đức là cái mình thâu hoạch [do công sức tu hành ấy]. Quý vị có một phần công phu, nhất định có một phần thâu hoạch, người khác chẳng lấy được. Quý vị có muốn cho họ, họ cũng chẳng lấy được; còn phước đức có thể cho người khác. Chẳng hạn như của cải của chính mình có thể chia một nửa hoặc toàn bộ cho người khác, người ta có thể hưởng thọ được. Nhà cửa cũng có thể cho người khác ở, họ cũng có thể thọ dụng được. Chỉ có công đức là không cách gì cho người khác được.
Công đức là Giới - Định - Huệ. Hãy nghĩ xem, công đức trì giới có chia cho người khác được chăng? Công đức niệm Phật của quý vị có đem cho người khác được hay chăng? Công phu quý vị tu định có cho người khác được không? Không có cách nào hết. Nếu công đức có thể cho được, chúng ta cần gì phải tu hành nữa, cứ đợi Phật chia cho chúng ta, chúng ta bèn thành Phật. Công đức là ông tu ông được, bà tu bà được, chẳng tu chẳng được, nhất định phải cậy vào chính mình, nhất định chẳng ỷ lại người khác được.
Công đức có thể hồi hướng. Đối với chính mình mà nói, hồi hướng nhằm mở rộng tâm lượng, nhằm quét sạch sẽ tập khí phân biệt chấp trước từ vô thỉ đến nay. Công đức tôi tu tôi đều chẳng cần đến, công đức tôi tu tôi đều nhường cho mọi người hưởng. Chẳng cần đến công đức, công đức càng lớn. Chẳng những công đức không mất đi mà phước đức cũng chẳng mất. Số phận quý vị có một trăm vạn thì quý vị đem một trăm vạn bố thí hết, vài bữa sau, lại có một trăm vạn khác. Vì sao vậy? Là do số phận quý vị có; phận số có thì chẳng bị mất, mạng không có thì có giữ kỹ cũng chẳng giữ được.
Người Tàu Đại Lục thờ tài thần Phạm Lãi, vì ông này là tấm gương kiếm tiền và dùng tiền, vừa có trí huệ vừa có phước báo. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Việt vương Câu Tiễn có hai tay trợ thủ, một là Phạm Lãi, hai là Văn Chủng. Hai mươi năm sau, nước Việt phục hưng, diệt xong nước Ngô. Khi đó, Phạm Lãi biết quốc vương có thể cùng chịu hoạn nạn, nhưng chẳng thể cùng hưởng phú quý, bởi thế bèn đổi tên họ trốn đi, lưu lại một phong thư khuyên Văn Chủng cũng nên bỏ đi. Văn Chủng không tin, quả nhiên mấy ngày sau, Câu Tiễn ban cho Văn Chủng thanh bảo kiếm, buộc ông ta tự sát. Phạm Lãi đổi tên thành Đào Châu Công, buôn bán giàu có lớn, đem toàn bộ tài sản bố thí, cứu tế bần dân khốn khổ. Tiền tài xài hết, lại buôn bán, chẳng mấy năm, lại phát tài, cũng tán tài giống như cũ, ba lần tài tụ tài tán.
Điều này cho thấy một miếng ăn, một hớp uống không gì chẳng phải là tiền định. Số phận có thì quyết định là có, số phận không có chẳng thể cưỡng cầu, cầu không được đâu! Nếu số mạng đã có thì có bỏ đi cũng chẳng bỏ được. Bởi thế quý vị bố thí của cải sẽ trở lại, lại càng nhiều hơn nữa, giống như lợi tức vậy đó. Biết được sự thật này, quý vị mới can đảm phóng tâm mạnh dạn bố thí. Nhưng chớ có đem lòng cầu may để thử, cứ mong một vốn vạn lời thì vừa thử của cải chẳng còn gì hết. Phải dùng tâm chân thành để bố thí cúng dường, đó là tu phước.
Sở dĩ công đức tu tập của chúng ta hồi hướng cho hết thảy chúng sanh, càng hồi hướng công đức càng lớn là vì tâm lượng to lớn. Tâm lượng to lớn, công đức cũng chuyển lớn theo, hết thảy tùy tâm chuyển mà! Nếu chẳng hồi hướng, niệm niệm chỉ vì mình, tâm lượng nhỏ nên công đức hữu hạn. Đức Phật dạy chúng ta, chẳng cần biết tu công đức lớn hay nhỏ, thậm chí điều thiện mảy may đều phải hồi hướng Bồ Đề, hồi hướng chúng sanh, hồi hướng pháp giới. Đấy là mở rộng tâm lượng của chính mình, viên mãn công đức tu hành vậy.
“Nguyện cho chúng sanh thường được yên vui, không có các bệnh khổ”: Trong mỗi niệm, Bồ Đề đều hy vọng chúng sanh thường được yên vui. “Hết thảy chúng sanh” bao gồm động vật. Nếu chúng ta ăn động vật, sát hại động vật, những động vật ấy có bình yên sung sướng được chăng? Kinh Lăng Già nói Bồ Tát chân chánh phát tâm chẳng nỡ ăn thịt chúng sanh. Tuy thế nhà Phật chẳng buộc quý vị trường trai, chỉ khuyên quý vị đừng sát sanh. Hễ nói đến lòng đại từ đại bi thì Phật nói chẳng nỡ ăn thịt hết thảy chúng sanh. Lương Võ Đế đọc đến đoạn kinh văn này, cảm động sâu xa, phát tâm ăn chay trường, đề xướng phong trào ăn chay trong nhà Phật. Thật sự mang lòng thích thấy hết thảy chúng sanh bình yên sung sướng, quý vị sẽ chẳng thể nhẫn tâm tổn hại chúng nó, càng chẳng thể nhẫn tâm ăn thịt chúng.
Mong mỏi hết thảy chúng sanh không có bệnh khổ; bệnh khổ do đâu mà có? Tất cả hết thảy bệnh khổ từ vọng tưởng mà ra. Trừ được vọng tưởng chấp trước khiến cho thân tâm thanh tịnh, khôi phục tự nhiên, thể chất biến đổi, có thể cả đời chẳng sanh bệnh. Y học chỉ trị đằng ngọn chứ không trị gốc, Phật pháp trị liệu tận gốc rễ: Dạy quý vị đừng khởi vọng tưởng. Do đây biết rằng: Phải đem Phật pháp giới thiệu cho hết thảy chúng sanh, phổ cập đến mỗi tầng lớp xã hội thì mới có thể thật sự giúp cho chúng sanh lìa khỏi hết thảy bệnh khổ.
“Muốn làm chuyện ác thảy đều chẳng thành”: Họ có ác niệm, muốn làm chuyện bậy, Bồ Tát, thần Hộ Pháp ngăn trở, khiến họ chẳng thể thành công được. “Tu tập thiện nghiệp đều mau thành tựu”. Động một niệm thiện tâm (tâm lợi ích hết thảy chúng sanh), Phật, Bồ Tát phù trợ quý vị, bởi lẽ điều đó ứng với tâm Phật, tâm Bồ Tát, cảm ứng đạo giao. Nếu chỉ vì chính mình, chỉ vì một nhà, bèn chẳng tương ứng với tâm Phật, Bồ Tát. Tâm Phật rộng lớn không ngằn mé, quý vị cứ quanh quẩn trong phạm vi rất nhỏ chẳng thể khởi cảm ứng được.
“Đóng chặt hết thảy cửa [dẫn vào] các ác thú”: Chữ “ác thú” được nói trong kinh đây phạm vi rất rộng. Ba đường ác, ba đường lành (do vẫn luân hồi trong lục đạo), A La Hán, Bích Chi Phật (dù có thiền định rất sâu, nhưng chưa kiến tánh), Bồ Tát (tuy kiến tánh, nhưng chưa viên mãn) đều là Ác Thú cả. Kinh này để nói với hàng Đẳng Giác Bồ Tát. Nói cách khác, từ Thập Địa trở xuống đều có thể gọi là “ác thú”. Hiện tại chúng ta chẳng thể đặt tiêu chuẩn cao như thế được, chỉ cần biết tam đồ lục đạo đích thật là ác thú, nhất tâm nhất ý phải vượt thoát trong một đời này, như vậy là tốt rồi! Vượt thoát chỉ có một đường duy nhất là đới nghiệp vãng sanh. Đường dẫn vào ác thú phải bít chặt. Bít chặt bằng cách nào? Xa lìa nó.
“Mở bày đường chánh: trời, người, Niết Bàn”: khuyên dạy chúng sanh niệm Phật vãng sanh, bất thoái thành Phật. Do đấy tổ sư đại đức thường nhắc nhở chúng ta chuyên tu Tịnh nghiệp. Niệm Phật kỵ nhất là xen tạp. Nếu xen tạp danh lợi thế gian, ngũ dục, lục trần thì chẳng thể thành tựu. Người niệm Phật niệm rất nhiều loại kinh, lại còn niệm chú thì cũng là xen tạp. Tối trọng yếu là tinh tấn nơi một môn. Ấn Quang đại sư dạy chúng ta: Người chuyên tu niệm Phật chỉ cần niệm một bộ kinh A Di Đà, ba biến chú Vãng Sanh, rồi niệm Phật hiệu. Kỳ thật, công phu đều dồn vào Phật hiệu. Niệm một bộ kinh và ba biến Vãng Sanh chỉ nhằm để định tâm. Nếu tâm chúng ta suy nghĩ lung tung, niệm Phật hiệu sẽ chẳng có cảm ứng. Nếu dùng tâm thanh tịnh để chấp trì danh hiệu thì có cảm ứng.
Nếu tâm quý vị rất thanh tịnh, chẳng có tạp niệm, chẳng có vọng tưởng thì kinh lẫn chú chẳng cần niệm nữa. Thời xưa, tổ sư đại đức một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, chẳng niệm kinh, niệm chú. Không ít người niệm Phật chỉ nhờ một câu A Di Đà Phật này, lúc lâm chung vãng sanh chẳng sanh bệnh, biết trước lúc đi, đứng vãng sanh hoặc ngồi vãng sanh rất nhiều. Đài Loan bốn mươi năm qua, có mười mấy vị đứng hoặc ngồi vãng sanh, quá nửa những người đó là những bà cụ rất già, không biết chữ, kinh lẫn chú đều chẳng niệm, tâm định. Bởi thế, người niệm Phật chẳng đọc sách báo, tạp chí, chẳng xem các kinh sách khác.
Dân Quốc năm thứ nhất (1912), Đàm Hư đại sư truyền giới tại chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân, thỉnh thầy của Ngài là Đế Nhàn Lão Hòa Thượng làm Đắc Giới Hòa Thượng. Trong thời gian truyền giới, có một vị xuất gia tên là Tu Vô đến giới trường giúp việc. Vị này rất dốt nát, trước khi xuất gia làm thợ nề, không biết chữ; gì cũng không biết, chỉ biết niệm A Di Đà Phật. Sư tình nguyện trong thời gian truyền giới sẽ săn sóc những bệnh nhân bị trúng gió, cảm mạo.
Được mấy ngày, Sư xin phép Hòa Thượng cho nghỉ, nói mình cần phải đi. Đàm Hư Đại Sư là người có hàm dưỡng, chẳng trách móc gì. Đương gia sư là Định Tây Pháp Sư tánh tình nóng nảy, nghe nói Sư phải đi, đối với Sư chẳng khách khí gì, nói ngay: “Chúng tôi truyền giới suốt mười ba ngày, vẫn chưa viên mãn, sao giữa chừng lại bỏ đi vậy?” Sư đáp: “Chẳng phải tôi đi qua chỗ khác đâu mà là về Tây Phương Cực Lạc thế giới”. Hai vị pháp sư ngẩn ngơ, hỏi ngày nào Sư đi? Sư nói đại khái không hơn mười bữa nữa, xin chúng thường trụ sắp sẵn hai trăm cân củi khô chuẩn bị thiêu hóa.
Hòa Thượng rất bội phục, trông thấy Sư đầu óc đất sét, cái gì cũng không biết, thân thể khỏe mạnh, cũng chẳng đổ bệnh, biết trước lúc mất. Ngày hôm sau, Sư lại tìm hai vị pháp sư nói ngày hôm nay Sư sẽ đi, xin chuẩn bị gấp cho. Lại xin mấy vị tăng thường trụ đến trợ niệm giùm để đưa Sư đi. Sư trải đệm trong phòng chứa củi, ngồi xếp bằng. Những người trợ niệm tiễn đưa xin Sư để lại một bài kệ làm kỷ niệm, thầy Tu Vô nói một câu: “Năng thuyết bất năng hành, bất thị chân trí huệ” (Nói được làm không được, chẳng phải chân trí huệ). Nói xong bèn im lặng.
Niệm Phật chừng mười lăm phút, Sư bèn đi, ngồi mà vãng sanh. Suốt đời chỉ một câu Phật hiệu, cái gì cũng chẳng biết, thật là niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn. Sư tuy không biết chữ, chẳng thể giảng kinh thuyết pháp, lâm chung biểu diễn một phen, không biết là độ được bao nhiêu chúng sanh nữa! Ngài hiện thân thuyết pháp, làm gương vậy.
Quý vị tu thiện pháp, chư Phật, Bồ Tát nhất định giúp quý vị viên mãn thành tựu. Hết thảy ác pháp chúng ta phải xa lìa, vì hết thảy chúng sanh chỉ dạy con đường lớn niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phật.
“Nếu các chúng sanh do vì các nghiệp ác tích tập, cảm lấy hết thảy quả khổ rất nặng, tôi đều chịu thay, khiến các chúng sanh đều được giải thoát, rốt ráo thành tựu Vô Thượng Bồ Đề”: Chúng sanh mê hoặc tạo nghiệp, cảm lấy quả báo luân hồi.
Hoặc nghiệp khổ là mê hoặc tạo nghiệp chịu khổ. Khổ là chịu lấy quả báo. Tuy chịu khổ vẫn chẳng giác ngộ, vẫn cứ mê hoặc, nên nghiệp tạo ra càng nặng, đời sau càng khổ. Giống như nước xoáy, càng xoáy càng chìm xuống, chẳng thể trồi lên. Nếu một đời này chẳng thể vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, tiền đồ của chúng ta thật đáng lo ngại, ắt đời này chẳng biết đời sau ra sao, bởi lẽ chúng ta khởi tâm động niệm ác nhiều thiện ít.
Phải hiểu nỗi khổ của chúng sanh do đâu mà có, phải tìm ra căn nguyên; sau đấy mới phát tâm chịu khổ thế cho chúng sanh. Chịu bằng cách nào? Thả chiếc bè từ phổ độ chúng sanh. Chúng sanh nên dùng thân nào để đắc độ, Bồ Tát bèn thị hiện thân phận đó. Quý vị là con người, Ngài cũng mang thân người. Quý vị đọa trong đường súc sanh, Ngài cũng biến thành súc sanh. Đó là chịu khổ thế cho chúng sanh, mục tiêu là giúp chúng sanh khai ngộ. Nói tóm lại, khuyên người niệm Phật, khuyên người cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Ngã quỷ, súc sanh cũng có thể độ được. Trong nhà Phật có một cuốn sách nhỏ mang tựa đề Vật Do Như Thử (Loài vật còn như thế) thuật chuyện động vật niệm Phật vãng sanh. Lúc Đế Nhàn pháp sư làm trụ trì chùa Đầu Đà tại Ninh Ba, tỉnh Triết Giang, trong chùa có một con gà trống. Mỗi sáng lúc gà gáy, mọi người thức dậy tụng khóa sáng; gà trống cũng tham gia khóa lễ sáng tối. Lúc đại chúng niệm Phật, nó cũng kêu cục cục niệm theo. Giữa trưa đại chúng thọ trai, nó cũng đến, cơm rau vô ý rớt xuống đất, nó bèn ăn sạch sẽ. Có một ngày tụng kinh khóa tối xong, đại chúng đều đi xuống hết, con gà chẳng đi, vẫn nhiễu Phật. Thầy Hương Đăng xua nó đi, nó mặc kệ thầy, nó đến giữa Phật đường lạy ba lạy: gật đầu ba lần, đứng yên vãng sanh. Gà trống còn có thể vãng sanh, nếu chúng ta không khéo học sẽ chẳng bằng được nó đấy! Đế Nhàn pháp sư theo đúng lễ tiết dành cho người xuất gia chôn gà trống sau núi. Loài động vật này quá nửa phần đời trước là người xuất gia, đại khái lúc lâm chung do một niệm lầm lạc bèn đọa thân súc sanh.
Trong lục đạo, Phật, Bồ Tát thị hiện mọi thứ thân hóa độ chúng sanh, giúp cho hết thảy chúng sanh niệm Phật vãng sanh thành Phật, đó mới là rốt ráo viên mãn. Tu các pháp môn khác, trong một đời chưa thấy có ai có thể chứng quả, chẳng thấy có ai có thể vượt thoát luân hồi lục đạo. Trong cuốn Niệm Phật Luận, Đàm Hư lão hòa thượng viết: “Trong một đời, tôi gặp nhiều đắc Thiền Định, nhưng chưa gặp được ai khai ngộ. Học Thiền nếu chẳng khai ngộ thì chẳng thể liễu sanh thoát tử, chẳng thể thoát tam giới. Đắc Thiền Định chỉ có thể sanh lên trời Tứ Thiền”. Chỉ riêng mình pháp môn Niệm Phật ổn thỏa, thích đáng, nhanh chóng, ai cũng có thể tu được, ai cũng có thể thành tựu. Trong hội Hoa Nghiêm, sau cùng Bồ Tát Phổ Hiền cũng đặc biệt đề xướng pháp môn Niệm Phật.
“Hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh phiền não tận, sự hồi hướng này của tôi chẳng có cùng tận”: Nguyện thứ mười được kết thúc cũng giống như những nguyện trước. Phát tâm nhất định phải dài lâu, tu hành phải “niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn”. Chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn. Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta “tịnh niệm tiếp nối”, bốn chữ này là bí quyết niệm Phật. Tịnh là chẳng xen tạp, nếu xen tạp tâm bèn chẳng thanh tịnh. Tối đơn thuần, tối tinh thuần là một câu Phật hiệu. Hiện tại chúng ta phải niệm thêm một quyển kinh là vì tâm chẳng thanh tịnh. Nếu tâm thanh tịnh, tuyệt đối chẳng xen tạp, ngay cả kinh A Di Đà cũng không cần đến nữa. Trong tâm từ sáng đến tối, trong mười hai thời, trừ một câu Phật hiệu ra, không nghĩ đến gì khác, người đó công phu thành phiến, đạt đến Nhất Tâm, đó là chân chánh thực hiện công phu. Đứng mất, đi mất, biết trước lúc mất là công phu đạt đến cảnh giới ấy.
Chúng ta chẳng bằng được những người ấy là vì chúng ta có tạp niệm, Phật hiệu vừa niệm một phen đã gián đoạn. Lúc làm việc, buông xuôi Phật hiệu, hùng hục gắng sức làm việc, làm việc xong, buông bỏ công tác, lập tức đề khởi Phật hiệu, chẳng có một tạp niệm. Lúc niệm Phật trong tâm chớ nên lấn cấn còn nhiều chuyện mình chưa làm, lúc làm việc lại niệm Phật hiệu. Nếu vậy, Phật hiệu niệm cũng không tốt, việc làm cũng chẳng ra gì, đôi bề đều mất cả.
Đến đây là giới thiệu xong mười nguyện. Phần sau, Phổ Hiền Bồ Tát lại có nhiều khai thị trọng yếu, cũng là đem những chỗ khẩn yếu trong mười nguyện đặc biệt chỉ dạy cho chúng ta.
===HẾT===


[1] Thiện Tài đồng tử: là đương cơ của pháp hội này. Theo phẩm Nhập Pháp Giới của bản Bát Thập Hoa Nghiêm, ở Phước Thành có một vị trưởng giả có năm trăm con trai, trong đó có một đứa bé tên là Thiện Tài. Lúc mới sanh ra, các thứ của cải trân dị từ đất vọt lên, do vậy đặt tên là Thiện Tài. Của cải ấy do công đức tu tập từ nhiều đời nên cảm ứng. Khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát giảng pháp tại An La Lâm thuộc phía Đông phước Thành, Thiện Tài đến nghe, nghe xong bèn phát đại tâm. Tuân lời Bồ Tát dạy, Thiện Tài cứ đi mãi về phương Nam tham bái năm mươi ba vị thiện tri thức. Vị thiện tri thức số 28 chính là Quán Âm Bồ Tát. Vị thiện tri thức cuối cùng là Phổ Hiền Bồ Tát. “Đương cơ” hay còn gọi là đối cơ nghĩa là người có tánh tình tư chất có thể lãnh thọ được pháp đang giảng trong pháp hội ấy.

[2] Một tiểu kiếp là một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Bốn trung kiếp là một đại kiếp, tức mười ba vạn bốn ngàn bốn trăm vạn năm. (134.400 x 10.000 =1.344.000.000)

[3] Bất khả thuyết bất khả thuyết: một con số cực lớn

[4] Phật sát: khu vực hóa độ của một đức Phật. Sát gọi đủ là Sát-độ (ksetu), nhỏ nhất là một tam thiên đại thiên thế giới.

[5] Lễ là biểu hiện của sự tôn kính. Thể hiện sự tôn kính đức Phật bằng những cách chắp tay, cúi đầu, cúc cung (cung là thân thể, gập mình lại thì gọi là cúc cung), phủ phục (thân thể nằm rạp xuống đất), phản chưởng (ngửa hai lòng bàn tay hướng lên trên), đảnh lễ (đầu mặt chạm xuống đất), tiếp túc (hai tay đặt hai bên mặt mình, lòng bàn tay ngửa lên, đầu áp sát đất, như ôm lấy chân đức Phật). Kính là lòng chí thành. Đây là cách hiểu theo mặt văn tự của chữ “lễ kính”.

[6] Giới có thể hiểu là giới hạn. Bất cứ vật gì có thể nêu tên được thì đều gọi là Pháp. Như vậy bất cứ cảnh giới, sự vật, sự tình nào đều có thể gọi là pháp. Pháp giới hàm ý tất cả vạn hữu. Hư không giới tức là toàn thể hư không.

[7] Thâm tâm là tâm thiết tha sâu đậm. Tín là tin, giải là hiểu biết rõ ràng. Dùng lòng tin hiểu sâu đậm, hiểu biết tường tận nên thấy chư Phật rõ ràng giống như các Ngài đang hiện diện trước mặt.

[8] Hội ở đây là pháp hội, tức là nơi Phật thuyết pháp. Hội ấy rộng lớn đông đảo vô cùng nên thêm chữ Hải đằng trước để hình dung hội ấy to lớn như biển cả. Hải hội vây quanh nghĩa là các vị Bồ Tát, Thanh Văn, các loài chúng sanh đến nghe pháp, đông không thể tính đếm được. Kinh Hoa Nghiêm hay dùng chữ Hải để hình dung những gì rộng lớn, phạm vi quá rộng.

[9] Giải nghĩa là hiểu rõ, phân biệt rành rẽ; Thắng là thù thắng (tốt đẹp đặc biệt). Nghĩa là khéo hiểu biết, phân biệt hết thảy mọi sự, mọi pháp trong thế giới một cách thù thắng.

[10] Tri kiến hiện tiền: Dùng ý thức để phân biệt là Tri, dùng nhãn thức để phân biệt gọi là Kiến. “Hiện tiền” là những gì hiện diện trước mắt.Gộp ý hai câu này có nghĩa là dùng tâm khéo quyết định, dùng sức thấy biết rõ ràng như sự vật đang đối ngay trước mắt.

[11] Biện Tài thiên nữ (Shri Devi): Là một thiên nữ trong cung Tự Tại Thiên Vương (trời Tự Tại thuộc tầng thứ sáu trong hai mươi tám tầng trời, tính từ dưới lên), còn gọi là Thiện Khẩu. Cô này có thể biến hóa đủ loại tướng lưỡi, mỗi một lưỡi phát ra vô cùng vô tận các thứ âm thanh, mỗi một âm thanh phát ra lại có cả mấy trăm thứ tiếng nhạc hòa theo. Trong các âm thanh của Biện Tài thiên nữ phát ra, lại còn có những lời lẽ hay khéo ca ngợi công đức Phật.

[12] Quảng tu cúng dường: Quảng có nghĩa là rất nhiều, rất rộng. Cúng dường (đúng ra phải đọc là Cung Dưỡng): Cung là cung phụng, Dưỡng là hiếu dưỡng như con cái đối với cha mẹ.

[13] Hương xoa (Đồ hương): loại hương để bôi lên thân, có hai loại dùng gỗ Chiên Đàn Hương nghiền thành bột trộn với sáp để bôi. Loại thứ hai là dùng các thứ hương nghiền thành bột để tạo thành sáp bôi hoặc xông quần áo cho thơm tho. Ở Ấn Độ do khí hậu nóng, mồ hôi nhiều nên các loại đồ hương nhằm khử mùi hôi nơi thân thể rất thịnh hành. Chiên Đàn là tiếng Phạn, Tàu dịch là Dữ Lạc (ban cho sự vui vẻ). Gỗ loại cây này rất thơm, cũng có thể dùng để chế hương đốt, có hai loại đỏ và trắng. Loại trắng trị bệnh nhiệt, loại đỏ trị bệnh phong. Do trừ được bệnh, khiến cho thân thể nhẹ nhàng thơ thới nên gọi là Dữ Lạc.

[14] Hương bột (Mạt hương): Hương nghiền thành bột dùng để đốt, hay dùng để hòa với đất sét thành bùn thơm để đắp đàn tràng, nặn tượng.
Chú ý các vật cúng ở đây được gọi là Mây hàm ý: vật cúng nhiều xếp tầng tầng lớp lớp dày đặc chật kín cả không trung như mây. Số lượng vật cúng quá nhiều không thể tính kể được nên nói “lượng như núi Tu Di”.

[15] Tô: chất tinh luyện từ sữa, vừa ăn được, vừa dùng để thắp đèn.

[16] Đây đều là danh mục những con số. Câu-chi (koti) là mười vạn, tức một trăm ngàn; cũng có thuyết nói một câu-chi là một ngàn vạn. Một ngàn vạn ức là một na-do-tha (một Ức là một ngàn vạn). Ca-la phần là một con số cực nhỏ, theo sách Huệ Uyển Âm Nghĩa: “Chẻ một sợi lông trên người làm trăm phần thì gọi là Ca La”. Toán phần là con số nhỏ nhất có thể tính được bằng toán học. Số phần là con số nhỏ nhất có thể tìm được bằng các công thức số học. Dụ phần là con số nhỏ nhất có thể hình dung được bằng thí dụ. Ưu-ba-ni-sa-đà, dịch là Cận Phần, tức là một hạt vi trần chẻ thành bảy phần, mỗi phần lại chẻ thành bảy, gần bằng với một Lân Hư Trần. Ý của đoạn này là công đức của Tài Cúng Dường chẳng bằng được một phần nhỏ nhất của Pháp Cúng Dường.

[17] Nhất Thiết Trí là trí thấy rõ tất cả hết thảy pháp trong mười phương pháp giới chỉ thuần là lý tánh Chân Không (gọi là lý tánh Chân Không có nghĩa là lìa khỏi hết thảy những tướng hư giả do cái thấy biết sai lầm, chẳng chấp vào những tướng hư giả ấy, chứ không phải là Ngoan Không, tức phủ nhận toàn bộ vạn hữu).

[18] Khối phước: Dịch chữ “phước tụ”. Tu tập bao nhiêu công đức tích lũy lại nên gọi là “phước tụ”.

[19] Trí địa: Chữ Trí chỉ Nhất Thiết Trí (trí thông hiểu tướng Không của hết thảy pháp, là trí của hàng Thanh Văn, Duyên Giác), Đạo Chủng Trí (hiểu hết thảy đạo pháp sai biệt, là trí của hàng Bồ Tát), Nhất Thiết Chủng Trí (hiểu rõ tổng tướng, biệt tướng, đoạn Hoặc, giác Mê, là trí của Phật). Địa là địa vị. Nói là “các thứ trí địa của Bồ Tát” là vì có đến bốn mươi địa vị.

[20] Nhập Niết Bàn: Tiếng Phạn là Bát Niết Bàn (parinirvana), còn dịch là Diệt Độ. Diệt là diệt phiền não, diệt sanh tử; Độ là độ sanh. Có khi còn dịch là Viên Tịch hay Nhập Diệt.

[21] Xá-lợi: Những phần còn lại của xương đức Phật sau khi thiêu, rất kiên cố, đa phần hình tròn, nhiều màu. Sau khi đức Phật nhập diệt, A Nậu Lâu Đà và Ma Ha Ca Diếp chủ trì việc thiêu kim thân, thiêu xong, thu được rất nhiều xá-lợi. Việc phân bố xá-lợi nhằm tạo cơ hội cho chúng sanh sau khi đức Phật nhập diệt, được gieo duyên đảnh lễ thân Phật. Về sau thường được dùng theo nghĩa rộng để chỉ xương cốt còn lại sau khi thiêu hóa của các vị Tổ Sư, các cao tăng.

[22] Hữu học, vô học: Hữu học chỉ người tu hành còn chưa viên mãn, chưa liễu sanh thoát tử. Vô Học là bậc thánh giả đã chứng quả La Hán trở lên, đã học viên mãn, không còn phải học tập, tấn tu những cách để đoạn trừ phiền não như trước khi chưa chứng quả La Hán.

[23] Thị hiện: Thị là làm cho người khác thấy, Hiện là bày ra. Thị hiện là biến hiện, hóa hiện, làm theo một cách nào đó cho người khác thấy.

[24] Tỳ Lô Giá Na (Vairochana): Hán dịch là Biến Nhất Thiết Xứ, ý nói: quang minh của Phật chiếu thấu khắp hết thảy mọi nơi; hoặc còn dịch là Đại Nhật Như Lai. Tỳ Lô Giá Na là Pháp Thân của Phật Thích Ca, Thích Ca là Ứng Thân của Phật Tỳ Lô Giá Na. Lô Xá Na là Báo Thân. Ngoài ra, còn có mười loại thân:
1) Chúng sanh thân: thân tướng của chúng sanh trong lục đạo; 2) Quốc độ thân: Trong các thế giới khác nhau, vì thích ứng với căn cơ sai biệt của chúng sanh, Lô Xá Na Phật hóa hiện thân tướng khác nhau. Nói đúng ra, Quốc Độ Thân chính là thân Phật. Gọi là sai khác vì tùy theo thân lượng của chúng sanh từng quốc độ mà thân Phật lớn nhỏ, hào quang chiếu xa hay gần, chúng sanh chỉ thấy được Ứng Thân hay thấy được cả Báo Thân; 3) Nghiệp báo thân: Thân cảm ứng do nghiệp báo; 4) Thanh Văn Thân; 5) Duyên Giác thân; 6) Bồ Tát thân; 7) Như Lai thân; 8) Trí thân: thân do trí huệ tu chứng viên minh cảm thành; 9) Pháp Thân; 10) Hư không thân: tướng thanh tịnh lìa cấu, chẳng có hình tướng, nhưng thanh tịnh trọn khắp pháp giới, giống như hư không.

[25] Chuyển Luân Thánh Vương: Vị vua cai quản toàn bộ tam thiên đại thiên thế giới, oai lực rất lớn, hưởng thọ phước báo rất lớn, có ngàn con, có đủ bảy báu vật, một trong số đó là bánh xe báu (bảo luân); luân có khả năng xoay tròn, bay lên hư không, đưa vua đi khắp nơi. Ngôi Luân Vương có bốn loại: Kim, Ngân, Đồng, Thiết. Thiết Luân Vương chỉ cai quản được Nam Thiệm Bộ Châu (Diêm Phù Đề).

[26] Sát-lợi: Giai cấp thứ hai trong xã hội Ấn Độ, gọi đủ là Sát Đế Lợi (Ksatriya), Hán dịch là Điền Chủ hoặc Vương Chủng, giai cấp nắm quyền lực quân sự và chính trị, trực tiếp cai trị xã hội Ấn Độ cổ thời.
Bà La Môn: Hán dịch là Tịnh Hạnh, giai cấp thứ nhất của Ấn Độ, đa phần là người tu hành, nắm giữ đặc quyền tế lễ, biên chép, diễn giải kinh điển Ấn Độ Giáo.
Trưởng giả: Người đạo đức cao, tuổi lớn, giàu có thì gọi là Trưởng Giả.

[27] Thiên long bát bộ: Tám bộ chúng thường theo nghe giảng Phật pháp: a) Thiên: các hữu tình thuộc hai mươi tám tầng trời; b) Long: Loài rồng, thường sống trong biển cả, ao, hồ, sông, nước, có thần thông, tánh tình dữ dội nóng nảy; c) Dạ Xoa: Loài quỷ bay được trên không, thích ăn người; d) Càn Thát Bà: Nhạc thần của Đế Thích; e) A Tu La: Người tu phước báo rất nhiều nhưng tâm sân hận quá lớn bèn đọa trong loài này, có phước báo như chư Thiên, nhưng thân hình thô xấu, thích đánh nhau với Đế Thích; f) Ca Lâu La: Giống chim to, rất hung bạo, thích ăn nuốt rồng; g) Khẩn Na La: Cũng là nhạc thần của Đế Thích, nhưng chỉ tấu pháp nhạc, diễn giảng Phật pháp; h) Ma Hầu La Già: Một loại rắn thần lớn.

[28] Thành thục: hiểu theo nghĩa đen là làm cho chín muồi, hiểu theo nghĩa rộng là tác động sự vật gì khiến cho thành công. Kinh dùng với ý nghĩa đức Phật quán sát căn cơ của chúng sanh, biết là đến lúc chúng sanh thành tựu chứng quả, bèn dùng các phương tiện thuyết pháp, giáo hóa, thị hiện khiến cho chúng sanh được thành tựu, chứng đắc đạo quả, công đức viên mãn.

[29] Noãn sanh: loài sanh bằng trứng, như các loài chim chẳng hạn.
Thai sanh: loài sanh con bằng cách mang thai, như thú, người.
Thấp sanh: loài sanh nơi ẩm ướt, như muỗi mòng.
Hóa sanh: loài sanh do biến hóa như chư Thiên, tội nhân trong địa ngục.

[30] Sắc thân: Nói theo quan điểm thế tục là thân có đủ mắt, tai, mũi, lưỡi… Nói theo Phật pháp, các thân do tứ đại (đất, nước, gió, lửa) và ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) hợp thành.

[31] Dục lạc: Các thứ ham thích, ưa muốn.
Ý hạnh: Ý là các thứ suy nghĩ trong tâm, Hạnh là những hành vi biểu hiện ra ngoài.
Oai nghi: Oai là dáng vẻ trang nghiêm, tề chỉnh. Nghi là có nghĩa là lễ mạo, đúng lễ. Oai nghi ở đây thường được hiểu là bốn hành động đi, đứng, nằm, ngồi đều tuân thủ đúng lễ tiết, trang trọng, đúng mực.

[32] Có sắc: thuộc về Sắc Giới. Từ địa ngục lên đến Tự Tại Thiên thuộc về Dục Giới, từ tầng trời phía trên Tự Tại Thiên lên đến tầng trời hai mươi tám (Sắc Cứu Cánh Thiên) thuộc về Sắc Giới. Chư thiên Sắc Giới chỉ có nam nhân, không có nữ nhân, không có ý tưởng dâm dục, có sắc thân có thể trông thấy được, nên gọi là Sắc Giới. Vô sắc: tức là Vô Sắc Giới, thuộc bốn tầng trời phía trên Sắc Cứu Cánh thiên. Người trong cõi trời này có tâm tưởng, sống bằng Thiền Định, không có sắc thân.

[33] Hữu Tưởng: tức trời Thức Vô Biên Xứ, tầng trời thứ nhất của Vô Sắc Giới. Người cõi này trong năm Uẩn chỉ có Thức và Tưởng,
Vô Tưởng: Vô Sở Hữu Xứ Thiên, chư Thiên cõi này không có tâm phân biệt, vọng tưởng, nên gọi là Vô Tưởng, đã khuất phục được thức thứ bảy (Mạt Na, tức chấp ngã).
Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng: Chư thiên trong cõi trời này công phu tu Định lực rất sâu, chế ngự được thức thứ tám, khiến cho thức thứ tám tưởng chừng như đã diệt nên gọi là Phi Hữu Tưởng, nhưng thật ra thức thứ tám vẫn còn hiện hữu một cách vi tế nên gọi là Phi Vô Tưởng.

[34] Thừa sự: hầu hạ, phụng sự.

[35] Nguyên văn: “Khoáng dã sa tích”, Khoáng là chỗ hoang vu, hiu quạnh. Tích là những khối đá nhỏ. Như vậy, khoáng dã sa tích là chỗ trống trải, hoang vu, đầy những cát đá.

[36] Cái gì to lớn nhất thường gọi là Vương, như núi Tu Di gọi là Sơn Vương; Thọ Vương là cái cây cực to trong các loài cây.

[37] Hồi hướng: Có bốn loại hồi hướng: 1) Hồi Sự Hướng Lý: chuyển hết thảy các sự tướng đã tu về nơi Lý. Chẳng hạn trong nguyện “rộng tu cúng dường”, Tài Bố Thí là sự tướng, tiếp đó nói đến Pháp Cúng Dường tức là Hồi Sự Hướng Lý; 2) Hồi Tự Hướng Tha: đem công đức mình đã tu hồi hướng cho mười phương ba đời hết thảy chúng sanh; 3) Hồi Nhân Hướng Quả: Lúc thoạt đầu tu công đức là để cầu phước báo, nay cái nhân của tu công đức là cầu thành Phật; 4) Hồi Tiểu Hướng Đại: Trước kia tu hạnh Tiểu Thừa nhỏ hẹp, chí nguyện tự độ, nay hướng đến hạnh Đại Thừa, rộng độ chúng sanh.

Bài viết cùng chuyên mục: